Thứ Hai, 31 tháng 8, 2009
Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2009
Thông bạch Vu Lan của Hội đồng Lưỡng Viện
THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 20.8.2009
Thông bạch Vu Lan của Hội đồng Lưỡng Viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
PARIS, ngày 20.8.2009 (PTTPGQT) - Viện Hóa Đạo trong nước vừa chuyển đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để phổ biến Thông bạch Vu Lan của Hội đồng Lưỡng Viện (Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo). Toàn văn Thông bạch như sau :
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤTVIỆN HÓA ĐẠO
Thanh Minh Thiền Viện 90 Trần Huy Liệu, Quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh
Phật lịch 2553
Số: 06/HDLV/TB/VTTHÔNG BẠCH VU LANCỦA HỘI ĐỒNG LƯỠNG VIỆN
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch chư Tôn đức Giáo phẩm,
Kính thưa chư thiện tín Phật tử trong và ngoài nước,
Chúng ta đang sống trong mùa Vu lan, mùa nhắc nhở chúng ta sống đời sống hiếu hạnh. Hiếu hạnh là hạnh quan trọng mà theo lời dạy của đức Phật, đó chính là Phật hạnh.
Vu Lan ngày nay không còn là ngày lễ riêng của Phật giáo mà do tính khế cơ, Vu Lan nghiễm nhiên đã trở thành truyền thống văn hóa của nhiều dân tộc, đặc biệt là dân tộc Việt Nam.
Lẽ ra, trong thời gian này, chúng ta có nhiều thắng duyên để làm tròn chữ hiếu, hiếu với Tam bảo, với quốc gia, với các bậc sanh thành dưỡng dục và với tất cả muôn loại chúng sinh. Thế nhưng, giữa bối cảnh của một quê hương bất công, lầm than và rách nát, quyền sống con người bị tước đoạt, nhân phẩm bị chà đạp, đất nước đang bị đe doạ bởi nạn ngoại xâm, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đang trong vòng kiềm tỏa, bản thân tôi và chư tôn Giáo phẩm Hội Đồng Lưỡng Viện trong nước vẫn liên tục bị trấn áp, chư tôn Giáo phẩm và Cư sỹ Phật tử đang phục vụ Giáo hội tại hải ngoại cũng bị tấn công, xuyên tạc, bôi nhọ, tất cả đều chìm ngập trong đêm dài của nạn độc tài toàn trị, vì thế việc thể hiện trọn vẹn hiếu hạnh, nhất là hiếu hạnh đối với đất nước trong hoàn cảnh hiện nay, đang là một trở ngại lớn lao.
Tuy nhiên, trước thực trạng đầy thống khổ như thế, là người con Phật, với lý tưởng của Bồ tát đạo, chúng ta không thể không dấn thân hành hoạt để giải thoát tự thân và giải cứu nỗi khổ của đồng bào và hết thảy muôn loài.
Thưa chư liệt vị,
Đức cố Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang dạy rằng: “Ở đâu có khổ đau, ở đó còn cần đến sự giải trừ khổ hoạn”. Việt Nam đang trực diện với quá nhiều khổ hoạn, nghĩ đến lời dạy của đức cố Đệ tứ Tăng thống và bản hoài xuất thế độ sinh của chư Phật, chúng ta không thể không tích cực hành động. Chúng ta hành động không vì tranh giành quyền lợi của ai cả mà chỉ vì phúc lạc lâu dài cho dân tộc và nhân loại.
Với bản thệ hoằng hoá độ sinh, dù Giáo hội đã và đang gặp nhiều chướng duyên, thử thách, kể cả những lúc tình trạng sinh tồn bị đe doạ thật sự, Giáo Hội vẫn sẵn sàng hy sinh vì sứ mệnh hoằng dương chính pháp, lợi lạc quần sinh. Bản thân tôi cũng như tất cả chư tôn Giáo phẩm trong Hội Đồng Lưỡng Viện, trước sau như một, quyết tâm giữ vững thệ nguyện sắt son của mình và nhất định không bao giờ bán rẻ lương tri để thoả hiệp với thế lực vô minh manh động.
Vu lan là mùa báo hiếu, Vu lan cũng là mùa giải khổ. Với tâm từ bi, trí tuệ sẵn có, Giáo Hội kêu gọi sự thể hiện Bồ tát hạnh của tất cả chư liệt vị. Trước nạn ngoại ma nội chướng, Giáo hội cũng khẩn thiết kêu gọi chư liệt vị hãy quan tâm củng cố, bồi dưỡng đức tin và tăng triển kiến giải cho giới trẻ, phát huy tinh thần vị tha vô uý, thừa kế xứng đáng sự nghiệp độ sinh của chư Phật, chư Tổ, phát khởi Bồ đề tâm, tuỳ theo hoàn cảnh, tổ chức lễ Bố Tát sau khóa An cư kiết hạ nhằm trưởng dưỡng năng lực thanh tịnh, phát huy dụng lực tuệ giác và xem đó như việc làm chủ yếu để đền đáp bốn ân, cứu khổ ba đường.
Thưa chư liệt vị,
Lịch sử là do con người tạo nên. Hạnh phúc hay khổ đau cũng do chính con người kiến lập. Không có bất cứ thành quả ưu thắng nào mà không xuất phát từ tác nhân thánh thiện và cũng chẳng có bất cứ tác nhân thánh thiện nào mà không dẫn đến những thành tựu ưu thắng. Trong ý nghĩa ấy, thay mặt Hội đồng Lưỡng Viện, tôi thân ái gửi đến chư liệt vị lòng biết ơn sâu xa và cầu chúc chư liệt vị một mùa Vu lan tròn đầy hiếu hạnh.
Cầu nguyện tổ tiên, ông bà, cha mẹ nhiều đời, người quá vãng được siêu sinh, kẻ hiện tiền được trang nghiêm phước huệ; âm siêu, dương thái, thế giới nhân loại chung sống hoà bình, nền văn minh Từ bi - Trí tuệ được hiển sinh, chánh pháp hưng long, đất nước tránh được họa ngoại xâm, dân tộc phú cường, chúng sinh an lạc.
Nam Mô Vu Lan Thắng Hội chư Phật, chư đại Bồ tát, chư Hiền Thánh Tăng tác đại chứng minh.
Chùa Giác Hoa, Sài gòn, ngày 12 tháng 8 năm 2009
T.U.N. Đại Lão Hoà thượng Xử Lý Viện Tăng Thốngkiêm Viện Trưởng Viện Hoá Đạo
Phó Viện trưởng kiêm Tổng thư ký Viện Hoá Đạo, GHPGVNTN
(ấn ký)Thượng toạ Thích Viên Định
Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2009
Buổi Thuyết pháp ứng khẩu
Buổi Thuyết pháp ứng khẩu của Pháp sư Thích Giác Đức. Trong dịp ra mắt tập Thơ “Tù” của Đại lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ, tại Sydney ngày 14/6/2009.
Trần Diệu Quán lược ghi
Trước hết, chúng tôi xin kính chào quý ngài và quý vị. Hôm nay chúng tôi không biết phải nói như thế nào diễn tả được sự vui mừng của chúng tôi khi gặp lại quý ngài và quý vị ở đây. Có những vị mà tôi đã được gặp từ năm 1963 đến bây giờ, tuy là mấy chục năm xa cách, nhưng thoáng nhìn thì thấy có rất nhiều vị đã quen biết và chúng tôi cũng có lời tán thán công đức quý ngài. Ở đây, đáng lý chúng tôi sẽ nói chuyện thật dài, nếu có nhiều thì giờ, nhưng vì thì giờ không có. Ban tổ chức chỉ cho 45 phút. Tôi cũng xin được phép cải chính chức vị của chúng tôi là Tổng Ủy viên kế hoạch của Văn Phòng 2 Viện Hóa Đạo (VP2 VHĐ) kiêm phó Chủ Tịch của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) tại Hoa kỳ.
Làm kế hoạch thì tôi dựa vào một số tiêu điểm. Cái tiêu điểm đó tức là những tiêu chuẩn, là những cái gì có lợi cho mình, có lợi cho người, có lợi bây giờ mà về sau vẫn có lợi ích và không có hại cho bất cứ ai thì cái đó có thể xúc tiến được. Và những cái nào mà đem lại lợi ích cho mình mà có hại cho người thì nhất định không làm dù người ấy là người nào. Và những cái nào có lợi cho mình, có lợi cho người, có lợi bây giờ nhưng di hại về sau thì cũng nhất định không làm. Những cái nào có lợi ích cho tổ quốc, cho đạo pháp mình, nhưng di hại cho nhân loại nhất định không làm. Thì đấy là kế hoạch nó khó như vậy Làm sao có một kế hoạch, làm sao có một nền hoà bình mà tránh được chiến tranh? Có nhiều khi phải làm hòa bình, muốn làm hòa bình thì phải có chiến tranh. Thí dụ như bây giờ người ta cướp nước mình và bảo rằng mình không chiến tranh thì làm sao giữ được nước? Do đó cho nên phải nghiên cứu kế hoạch nào để không phải lưỡng lợi mà đa lợi. Lợi đây là lợi ích chứ không phải lợi lộc. Là một tu sĩ phật giáo không bao giờ mong lợi ích về quyền lực, mà cũng chẳng mong lợi ích về thế lực, và cũng không mong lợi ích gì về những lợi lộc vật chất.
Chúng tôi xin phép được nói tóm tắt về Đức Giáo chủ của chúng ta. Điều thứ hai là nói sơ lược về giáo lý của chúng ta và điều thứ ba là giáo hội của chúng ta.
Chúng ta thấy, nói đến đạo Phật tức là nói đến con đường mà tự mình giải thoát cho mình. Con đường tự mình cứu khổ mình và có thể đem con đường giải thoát của Đức Phật để cứu khổ cho nhân loại. Như vậy, đạo Phật không những là một tôn giáo chỉ ra phương hướng để giải thoát mà còn là con đường hoá độ để cứu khổ cho chúng sinh. "Thượng hoằng Phật Đạo hạ hoá chúng sinh" .....
Đạo Phật là một đạo giải thoát, siêu thoát, nhưng là một đạo nhập thế hoá đạo cứu đời. Cho nên chúng ta thấy đạo phật là một tôn giáo đại đồng cho toàn thể nhân loại. Nhưng đạo Phật lại cũng là một tôn giáo ủng hộ chủ nghĩa quốc gia rất mãnh liệt để bảo toàn lãnh thổ, bảo toàn nền văn minh cho mỗi nơi, mỗi vùng và đặc biệt là tôn trọng nền độc lập của mọi quốc gia. Do đó cho nên chúng ta thấy vị giáo chủ của đạo Phật là Đức Phật, một vị giáo chủ rất hoà bình. Chúng ta có thể nói Đức Phật về nhiều phương diện, nhưng mà không có Đức Phật nào mà không có hoà bình, vì chẳng có tượng Phật nào mà không mỉm cười. Đến chùa thấy tượng Phật là thể nào cũng thấy có tượng Phật mỉm cười rồi:
"Gió luồn khe cửa chao đèn vật.
Một nụ cười xưa phát thệ nguyền.."(Thanh Tịnh)
Hễ nói đến đạo Phật là người ta nói đến từ bi, đạo từ bi. Và nói đến đạo Phật là người ta nói đến đạo giác ngộ. Bởi vì trước khi Đức Phật nhập niết bàn thì A Nan hỏi rằng:
Bạch Đức thế tôn, sau khi Ngài nhập niết bàn thì chúng con tôn ai làm thầy?
Phật đã nói rằng:
Này A Nan, sau khi Như Lai nhập niết bàn thì các ngươi hãy lấy giới luật làm thầy, từ bi làm chí nguyện và trí tuệ làm sự nghiệp (Kinh Di Giáo).
Có ai làm thầy mình hơn là chính giới luật làm thầy. Không phải một vị sư có quyền phạm giới được. Không phải một nhà vua có quyền phạm giới được. Tất cả từ Tăng chúng sinh đến tín đồ, từ người lớn đến người nhỏ, từ những vua quan, chính quyền cho đến thứ dân và tất cả mọi người đều phải tôn sùng giới luật và pháp luật. Chứ không phải tôi là chính quyền thì tôi muốn bỏ tù ai thì bỏ tù. Đâu có phải tôi là nhà nước thì tôi muốn giết ai thì giết. Không! Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, tức Giới hòa đồng tu.
Hãy lấy giới luật làm thầy. Giới luật là: Một vị cư sĩ ở tại gia có 5 giới. Một vị xuất gia sa di có 10 giới. Một vị pháp sư như chúng tôi thì 58 giới và 10 điều nguyện. Nhưng đã thọ giới rồi và đã giữ giới rồi thì thà chết không phạm giới. Cho nên sau khi Đức Phật nhập diệt hay bất cứ lúc nào, đã là người Phật tử, đã là một người có đạo đức, bắt buộc phải giữ giới. Trong những giới đã thọ mà giữ được toàn thể thì gọi là Toàn Phần Giới Luật , giữ được một phần thì gọi là Thiểu Phần Giới Luật và giữ được phần lớn thì gọi là Đa Phần Giới Luật. Bất cứ ai giữ được những điều giới luật mình đã nguyện thọ trì thì cái đó gọi là tịnh giới. Không thể có người tịnh giới mà thọ rất nhiều giới rồi thì phạm giới lung tung. Không được! Không cho phép. Cho nên giới luật làm thầy, là phải tôn trọng giới luật. Chỗ nào có sự tôn trọng giới luật làm thầy thì chỗ ấy Phật pháp không thể bị suy đồi. Đó là mục đích của thế gian này. Lấy giới luật làm thầy, lấy từ bi làm chí nguyện. Đạo Phật là đạo từ bi, nói đến đạo Phật là thấy sự hiền lành. Chính vì vậy, qua suốt giòng lịch sử trên 2500 năm của đạo Phật trên mặt đất này, không có một chỗ nào mà đạo Phật đã khuyến dụ để có chiến tranh cả. Nhưng đạo Phật cho phép một cư sĩ tại gia hay cả tu sĩ xuất gia, khi giặc đến chiếm đất nước thì phải dấn thân để đi ra bảo vệ tổ quốc, bảo vệ giống nòi và bảo vệ lãnh thổ. Thế nên chúng ta không ngạc nhiên khi biết Trần Hưng Đạo là một nhà sư, Lý Thường Kiệt là một nhà sư, Ngô Thời Nhiệm là một thiền sư và Nguyễn Trãi là một thiền sư. Lịch sử cho phép như vậy và đã chép như vậy đó. Trong thời Trần, một nửa dân chúng ở trong nước là tu sĩ, nhưng ở giòng tu sĩ có gia đình (bán thiên hạ vi Tăng). Các vị mở sử ra mà coi, muốn biết Trần Hưng Đạo là một nhà sư ở đâu thì mở Đại Việt Sử ký toàn thư ở bản kỷ trang 41 a & b thì thấy Trần Hưng Đạo là một nhà sư. Đọc lịch sử thấy Lý Thường Kiệt có phải một chú sa di bỏ giới, phải xả giới để hoàn tục. Từ hoàn tục đến tự cung để đi vào trong triều đình cùng với vua. Vua mới tuyển từ đó ra mặt trận mà làm kinh thiên động địa: phía Bắc thì đánh Liêm Châu, Ung Châu tức Quảng Đông Quảng Tây, miền Nam thì đánh suốt từ bến Nhật Lệ và mấy lần đuổi quân xâm lăng, bảo vệ lãnh thổ với mặt trận ở sông Như Nguyệt như thế nào ...... các vị biết rồi đó. Ba lần xả giới. Trần Hưng Đạo xả giới để đại phá quân Mông cổ ra sao. Trận Bạch Đằng như thế nào các vị còn nhớ? Các nhà sư đấy! Hiền lành đấy! Nhưng mà cầm võ khí để chống giặc, bảo toàn lãnh thổ .
Thành ra, chúng ta sống trong một nước Phật giáo như Phật giáo Việt Nam (PGVN), không thể và không giống như Phật giáo Campuchia, không giống như PG Miến Điện. Chúng ta không thể tìm thấy một ngôi chùa, như tất cả các ngôi chùa mà giống hệt nhau ở trên thế giới. Chúng ta thấy lạ lùng là ngôi chùa Tàu giống chùa Tàu, ngôi chùa Việt giống chùa Việt, ngôi chùa Miên giống chùa Miên, ngôi chùa Thái giống chùa Thái. Không có một kiểu nhất loại là bắt tất cả thế giới phải nhất định theo một mẫu mực mà ngược lại Đạo Phật tôn trọng văn hoá của mỗi dân tộc, tôn trọng chủ quyền của mỗi dân tộc, tôn trọng lãnh thổ của mỗi dân tộc và tôn trọng tất cả sự sống của con người và loài vật. Đạo Phật là đạo từ bi, và chúng ta không thấy đạo Phật có chiến tranh và chúng ta thấy những Phật tử hiền lành lắm. Người Campuchia cũng hiền lành, hiền lành mấy nghìn năm cho đến khi chủ nghĩa Cộng sản truyền vào là đẻ ra một Polpot giết mấy triệu người một lúc. Các vị thấy trong lịch sử đó. Các vị thấy những người đang hung hãn, nhưng mà đến khi quy y đạo Phật, như quân Mông Cổ là quân hiếu chiến, mà đến khi quy y đầu Phật thì trở nên một sắc dân hiền lành. Chúng ta đã nhìn thấy thật rõ ràng. Chúng ta thấy đạo hữu của dân tộc ta “sinh ra đời mà không gặp Phật thì thờ phượng cha mẹ, chính là thờ Phật vậy“. (Kinh Hiếu Tử) Và chúng ta thấy sự hiền lành từ bi đã thấm nhuần vào ca dao:
"Bầu ơi thương lấy bí cùng.
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn".
Tình thương yêu như vậy mà đến khi ảnh hưởng bởi chế độ CS, thì con chỉ vào mặt mẹ, con lấy đá con ném cho mẹ chết. Vì sao? Thấy không? Có thấy không? Hãy nhìn xem chín năm CS cai trị ở Bắc Việt, đạo Phật ở Bắc Việt còn không? Và tàn tạ như thế nào? Nhìn xem CS cai trị ở Trung Quốc mấy chục năm, bây giờ PG Trung Hoa còn gì không? Cho nên nói: hỏi tức là trả lời. Chúng ta thấy đạo Phật là đạo từ bi, nhưng đạo Phật nhấn mạnh tới trí tuệ. Ở trong kinh có câu rằng “Duy tuệ thị nghiệp“ lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Nếu không có trí tuệ, chúng ta không ngồi đây, không đứng đây. Ngay từ thuở ban sơ, từ thời còn ở dưới hang, còn ăn con vật cả lông, còn ăn sống, chưa biết nướng chín, nấu chín, cho đến tiến bộ như ngày hôm nay, tôi đang cầm micro như thế này chúng ta đang ngồi dưới ánh điện như thế này là nhờ bộ óc của chúng ta theo con đường trí tuệ. Nhờ trí tuệ của chúng ta mà tìm ra chỗ nào có nước uống, để về sông mà uống nước. Về sông uống nước rồi tìm được chỗ nào có cây mọc để ăn trái, ăn củ, ăn lá và ăn rau, và cũng nhờ sông mà có cá ăn, cũng nhờ có trí tuệ, tìm cách làm nhà mà ở và nhờ có trí tuệ phát triển đến ngày hôm nay. Trí tuệ là sự nghiệp. Không có trí tuệ nhân loại chết rồi, không sống được, không tồn tại được. Chúng ta thử hỏi, nếu trí tuệ mất đi, mà chúng ta cứ say sưa, chẳng biết đâu là nhà, đâu là đường. Đường cái không đi, nhè bụi tre mà bước vào còn chửi cha đứa nào trồng tre giữa đường. Ai trồng cây giữa đường? Lý Bạch - một nhà thi hào Trung Hoa, uống rượu say rồi nhảy xuống nước, yêu mặt trăng, ôm mặt trăng mà hôn... chết tuốt. Ai kéo trăng xuống nước, ai trồng tre giữa đường? Chỉ vì vô minh, mà mất trí tuệ. Do đó cho nên phải lấy trí tuệ làm sự nghiệp.
Tôi sung sướng quá, ở trong kinh Viên Giác nói rằng bản thể vũ trụ là trí tuệ, là viên giác, tức là giác ngộ hoàn toàn tròn đầy, không còn huyễn hoá. Trong khoa học ngày nay thì nói rằng: The nature of universe is emptiness. Và nhà khoa học hiện nay còn sống, Stephens Hawkins, đang là một nhà toán học của Hoàng gia Anh nói rằng Tôi biết được bản thể vũ trụ là emptiness là Không, là nhờ tôi học thuyết chân không của PG. Trong khoa học tôi thấy ông ta nói: “ In the emptiness there’s something, some unseen materials. Trong cái chân không đó, cái bản thể vũ trụ đó có một thứ vật chất mà mắt người không thấy được. Ông ta nói: “Sở dĩ tôi thấy được điều đó là nhờ Đại thừa PG nói rằng “trong chân không có diệu hữu” Kinh nói trong chân-không có diệu hữu và chính vì trong chân không có diệu hữu cho nên trong khoảng trống không mà khoa học thấy đó có một cái gì gọi là thời gian. Vì cái ấy có phát triển cho nên có lịch sử thời gian. Và ông ta viết quyển "The History of times" (Lịch sử thời gian). Trước đó nhà bác học nổi tiếng Albert Einstein cũng nói về thuyết tương đối, có một ít tương tự Thuyết Duyên Sinh huyễn hóa vô thường vô ngã của Phật Giáo.
Cái bản thể chân không mà Đức Phật gọi là viên giác đó tức là trí tuệ tròn đầy. Và gần đây Đức đương kim Giáo hoàng của toà thánh La Mã của người công giáo trên thế giới, Ngài tuyên bố rằng: "Bản thể của vũ trụ là một structure”. Ngài nói là bản thể vũ trụ là một kiến trúc trí tuệ. (The nature of Universe is a structure of intelligence). Tôi đọc đến đoạn đó tôi đứng dậy và tôi cười,tôi Nam mô A di đà Phật , Đức Giáo hoàng nhìn thấy điều này giống như ở trong kinh Viên Giác. Nhưng chưa giống hệt, bởi vì nếu giống hệt, thì bản thể không là một structure, không là một cấu trúc, vì cái gì đã có cơ cấu thì có điều kiện, mà cái gì có điều kiện thì cái đó tương đối huyễn hoá, mà cái gì tương đối huyễn hoá thì không phải cái tuyệt đối. Bản thể phải tuyệt đối. Mà bản thể không dùng trí tuệ phân biệt, tương đối mà thấy được ”ly ngôn thuyết tướng” xa lìa cái tướng lời nói. “Ly danh tự tướng” cũng xa lìa cả sách vở cũng không dùng sách vở mà nói nó được. “Ly tâm luyên tướng” không dùng tư tưởng mà quán triệt nó được (Luận Đại Thừa Khởi Tín). Chỉ có thể dùng đại trí tuệ bát nhã mới thấy được cái bản thể của vũ trụ. Nhưng mà tôi chúc mừng Đức Giáo hoàng. Ngài là người công giáo đầu tiên đã nhìn thấy bản thể của vũ trụ là một cấu trúc, một cơ cấu kiến trúc trí tuệ. Đấy là sự sáng suốt lớn, nếu so với trong quá khứ. Carl Sagan là người đã tìm thấy thuyết Evolution tạm dịch là thuyết phát triển tự nhiên của vũ trụ. Cũng dựa trên Đạo lý duyên sinh của Phật giáo, hiện nay tất cả các đại học trên thế giới đều phải học về thuyết đời sống của một ngôi sao, ngôi sao là mặt trời, Và một mảnh của mặt trời là trái đất. Trong tất cả hư không như khi chúng ta đọc một câu trong kinh:" Nam mô tận hư không biến pháp giới thập phương tam thế". Tận hư không biến pháp giới ở trong cái không là hư không. Thế hư không thì ngoài hư không là chỗ nào? Không có đâu ngoài hư không hết, chỗ nào cũng là hư không. Nếu đã có một cái gì chiếm một thể tích hư không thì chỗ ấy đã có không gian rồi.
Bởi vì vũ trụ là gì?
Vũ trụ là tất cả là không gian và thời gian.
Thời gian thì chẳng phải trước sau. Thời gian chẳng trước chẳng sau. Không gian không có trên, dưới, trong, ngoài. Trên- dưới - trong- ngoài là do con người đặt ra. Trước, sau là quan niệm của con người gắn vào đó mà thôi, và ngày đêm chỉ là bóng dáng của thời gian, chứ tự nó chẳng phải thời gian. Cho nên không gian vô cùng, thời gian vô tận. Nam mô là trở về, là hoà đồng với bản thể tận hư không, là hết khắp các cõi hư không, biến pháp giới là toàn thể vũ trụ, thập phương là mười phương. Nói là 10 phương là nói cho loài người: Phương Đông, phương Tây, phương Nam , phương Bắc (4 phương), Đông Nam , Tây Nam , Đông Bắc, Tây Bắc (8 phương), trên và dưới là 10 phương. Nhưng nói 10 phương là vì chúng ta muốn giả định để biết phương hướng, chỉ gọi nó vậy thôi. Chứ làm gì có một phương nào nhất định là Tây đâu! Bảo Tây là kia nhưng trái đất vẫn quay thì Tây lại sang hướng này. Bảo đây là trên nhưng khi trái đất quay ngược lên trên thì trên kia nay là dưới. Trái đất hình tròn, nó quay “tùm lum“, thành ra chỗ nào trên đầu ta gọi là trên. Nhưng mà khi trái đất nó quay thì đầu ta ở dưới. Cho nên, đứng trên phương hướng mà nói cũng chỉ là đơn giản tượng trưng và tương đối thôi. Vì vậy, đứng trên phương diện trí tuệ, đạo Phật là đạo trí tuệ, đạo từ bi, đạo giác ngộ, đòi hỏi con người làm nhiều việc lắm. Nhưng có hai việc là tự độ và cứu khổ. “Chúng con khổ, nguyện xin cứu khổ” và “chúng con khổ nguyện xin tự độ”. Nếu mình không cứu mình, Đức Phật chẳng cứu mình được, và nếu mình không muốn cứu mình, thật sự mình có tu chứng thì mình cứu được mình và trong lúc mình cứu được mình thì mình có thể nhờ ơn Đức Phật cứu mình, cứu rỗi mình, cứu độ mình. Tôi đứng ở trên này là đâu phải tôi đứng một mình tôi. Đã có người nào ngày xưa đóng cái bục này, và cái bục này phải có sức hút của trái đất và có biết bao nhiêu những cái nhờ vả, tôi mới đứng ở đây được. Chứ nếu bây giờ có một người làm lệch quỹ đạo mặt trăng đi, trái đất mất sức hút đi thì tôi hết đứng đây. Thành ra “tăng thượng duyên” ở các nơi làm cho chúng ta ngồi đây được, làm cho chúng ta hiểu nhau được, tất cả đâu phải chỉ một mình mình. Cho nên, chúng ta nhờ tha độ đó. Mỗi tôn giáo đều nhờ vào một thần linh của mình. Đạo Phật cũng nhờ vào sự giúp đỡ của Đức Phật. Tha độ là tăng thượng duyên. Tất cả sự giúp đỡ của Đức Phật, những hào quang của Đức Phật, những vũ trụ tuyến, từ bản thể vũ trụ phát ra, ảnh hưởng đến đời sống của con người mỗi ngày. Không có tăng thượng duyên chúng ta không sống được. Cho nên, “chúng con khổ, nguyện xin cứu khổ“, tức là xin cho mình kết tụ được những tăng thượng duyên là những tha độ. Và “chúng con khổ nguyện xin tự độ”, phải tự mình độ mình bằng hanh trì và tu chứng.
Người Hoa rất yêu thương chúng ta. Nhưng CS Trung Hoa của chính phủ Trung Quốc đang lập một chương trình bauxite để cướp đất nước chúng ta. Mà chúng ta cứ nằm im thôi, rồi thì nếu cụ Quảng Độ không nói ra, mà cứ nghe người nào xúi dại, bảo rằng: “Đi tu thì mũ ni che tai, sự ai không biết, ai sao tôi vậy, tôi không nói bậy thôi”. Nếu Cụ Quảng Độ cứ ngồi im thì cả nước, cả thế giới có ai biết rằng mình đang sắp chết đuối mà đến cứu. Phải nói là ngưng bauxite đi! Không có lợi gì đâu. Đó là một cách họ kiếm cớ xây tiền đồn trên mái nhà Đông Nam Á, rồi họ cướp tất cả Đông Nam Á và nước VN bây giờ ...Ngưng đi! Không những thế mà phải ngưng. Tất cả các giòng sông đều bị hoá chất hết. Không những thế mà phải ngưng, núi trọc chết rồi thì nước chảy về, ngập hết. Sau cơn ngập lụt ở trên cao nguyên không chứa được nước, không có nước để thấm dần về đồng bằng, đồng bằng sông Cửu long nước mặn ở dưới trồi lên vì không có nước ngọt dằn xuống, nhà nông chết đói, Sài Gòn và một phần miền Trung không có nước ngọt uống. Chết ... chết ... Ngưng bauxite đi! Thì người ta bảo “Cụ đã tu không lo mà tu đi, cứ nói đến bauxite”. Mà nếu không ngưng bauxite, không ngưng ngay đi thì mất nước Việt đến nơi rồi... Dân nhà nông chết đói rồi, các sông ngòi không còn nước mà có thể uống được, bị thấm vào khoáng chất rồi mà không có nước ngọt ... Chết, nước mất rồi. Thành ra tu là phải có trí tuệ, phải giác ngộ, phải tự cứu mình và cứu người. Ngài chẳng làm được gì cũng như chúng tôi và cũng như chúng ta, nhưng ngài nói rằng, hãy nghe, hãy giác ngộ, hãy tỉnh lên đi, kêu lên đi, kêu ầm lên đi và cả thế giới quay vào cứu, phản đối . Bây giờ nó khựng lại rồi. Lúc đầu họ (CS) cấm ngặt mấy người quốc hội không được nói đến chữ bauxite, và bây giờ phải nói rồi, và cả thế giới người ta nói rồi. Được rồi, muốn nói thì cho nói, muốn hội thảo, được rồi cho hội thảo. Tưởng rằng người ta khen đảng , không ngờ 135 người (trong quốc hội) ký giấy phản đối phải ngưng ngay! Thành ra chúng ta chết đuối thì chúng ta cũng phải ráng mà ngoi lên mặt nước, đưa tay lên và nếu ngóc được lên mà hét thì có người khác cứu chúng ta. Bây giờ cả thế giới bắt đầu để ý cứu chúng ta rồi. Chúng ta, trên bước đầu, chúng ta được thoát chết chứ không còn mà âm thầm chịu chết nữa. Chắc chắn rằng cả nhân loại không để cho chúng ta chết. Và chắc chắn rằng các quốc gia Đông Nam Á sẽ chia sớt với chúng ta, và cả thế giới chia sớt với chúng ta trong vấn đề đó. Giúp chúng ta để mà giữ được Hoàng sa Trường sa ở phía Đông và ngưng ngay việc trên toan tính cướp nước chúng ta từ phía Tây. Chúng ta mới thoát ra trên lý thuyết thôi. Còn trên thực tế, người của bọn họ còn đó, thế lực CS còn đó, súng đạn còn đó. Có người bảo hừ mấy ông sư, giặc nó đánh đến nhà, không lo mà đánh lại, cứ lo bất bạo động, biểu tình tại gia, tại chỗ, không lẽ trùm mền tranh đấu ai đây. Xin thưa: Đấy là thái độ tranh đấu tại gia, xây dựng ý thức hệ tự chủ, " Nam quốc Sơn Hà Nam Đế Cư" đấy. Không có ý thức đó, không giữ được tổ quốc và lãnh thổ đâu. Mà không có cái đó mà đem ra bắn, anh có bán hết cả tài sản anh có để kiếm lấy vài ngàn hoả tiễn. Bán hết vài ngàn hoả tiễn thì lấy đâu ra bán. Muốn bắn nữa thì phải mua. Mua không được thì phải mời người khác. Mời người khác, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa thì sao đây? Không lẽ nằm yên mà chịu chết. Cho nên biểu tình tại gia, tức là nuôi dưỡng ý chí. Chúng ta ngồi ngay đây, không ra ngoài đường biểu tình, ngồi ngay đây và ý thức rõ ràng, quyền sống của người Việt, cái sự sống của người Việt, lãnh thổ của người Việt và nền văn minh của nước Việt. Chúng ta ý thức được cái đó, chúng ta đang biểu tình tại chỗ đấy, nếu không muốn gọi là tại gia thì nói rằng: Ngay tại chỗ này chúng ta đang rèn chí đấu tranh, bảo toàn lãnh thổ, nhằm kêu gọi nhân loại không cho phép Trung Cộng với sự tiếp sức của tay sai, âm mưu cướp nước ta và chuẩn bị đàn áp cuộc tranh đấu của chúng ta như đã làm ở Thiên an môn.
Việc gì đến sẽ phải đến dù hy sinh để mãi mãi xứng đáng với giống nòi “Anh hùng Hiếu Đạo”. Lời kêu gọi Tháng Năm Biểu tình tại gia Bất Tuân Dân Sự đã kết thúc, gây được tiếng vang mau chóng và nhận được sự hưởng ứng giúp sức của Quốc tế và nhân loại. Trung Cộng và tay sai Cộng sản bản địa đã “khựng lại”. Nhưng việc bảo toàn lãnh thổ và sự sống còn của dân Việt vẫn đòi hỏi phải trường kỳ đấu tranh bất bạo động đầy gian khổ và hy sinh hơn nữa.
(Giá như mà tôi có thì giờ đứng ở đây với các đạo hữu vài tiếng đồng hồ, tôi nói hết. Tôi xin vắn tắt).
Vậy thì Đức Phật không những là đấng đầu tiên dạy nhân loại biết sử dụng lý trí và phát triển trí tuệ của mình đến tuyệt đối, mà còn là người để lại cho nhân loại những tư tưởng lớn nhất và nhiều nhất trong tất cả các nhà tư tưởng của đông tây kim cổ. Không tin cứ mở sách ra mà coi có người nào để lại nhiều tư tưởng cho loài người qua lịch sử bằng Đức Phật không? Tôi thấy Đức Phật, tôi không khen đấng giáo chủ của tôi là nhất đâu, nhưng mà tôi không tìm thấy một nhân vật nào trên thế giới để lại cho nhân loại nhiều tư tưởng giải thoát và nhiều tư tưởng cứu khổ và nhiều tư tưởng để sống giữa vũ trụ và nhân sinh bằng Đức phật. Voltaire ở thế kỷ XVI là người đầu tiên ở Tây âu kêu gọi nhân loại sử dụng lý trí. Nhưng trước Voltaire, Đức Phật trên 2500 năm đã kêu gọi sử dụng lý trí để phát triển trí tuệ bản chất của lý trí ........ (Xin coi kinh Kalama).
Về giáo lý của đạo Phật thì đời vô thường - có đúng vô thường không? Đời khổ - có đúng khổ không? Người ta bảo không. Khổ là vì anh thiếu tình yêu thôi. Anh có tình yêu anh không khổ. Đồng ý! Nhưng mà “đường vào tình yêu, có trăm lần vui, có vạn lần buồn”. Tại anh sai mà anh khổ đấy! Đồng ý! Nhưng mà tại sao có người viết là "anh đã lầm đưa em sang đây". Vậy thì chúng ta có nhìn thấy khi chưa có được cái mà chúng ta khao khát. Có người bảo rằng, tại thiếu tình yêu, thiếu tiền. Vậy thì tôi xin thưa, rất ít người nghèo tự tử nhưng phần lớn là những người giàu - mới khổ chứ! Thử nhìn sự thống kê. Nghèo thì túng, túng thì bần, "bần cùng sinh đạo tặc, phú quý sinh lễ nghĩa". Biết vừa đủ thì luôn luôn đủ (tri túc thường túc). Bần cùng khổ lắm, nhưng trong cảnh bần cùng chúng ta vẫn phải chiụ đựng trên cả ngàn năm. Trong cuộc đời đầy khổ ải này chúng ta vẫn thương nhau, không ai thương chúng ta bằng chính chúng ta.
Các vị đến đây, tôi nhìn thấy, có các vị bận áo len, có những vị bận áo khoác, tôi mừng lắm, vì ít nhất thái độ đầu tiên là mình nghĩ đến là mình thương mình. Tuổi già rồi, chẳng biết đi về có ho hen không, cúm heo thì sao? (Cả hội trường cười ầm lên). Thành ra phải có cái áo khoác. Thành ra mình có thương mình, mình có trọng người khác và mình thương người khác thì đùm bọc. Trong cuộc đời này chúng ta đã nhìn thấy đạo Phật khuyên chúng ta yêu thương đùm bọc là như vậy đó. Và chúng ta biết giáo lý của đạo Phật, tuy rằng trong cuộc đời vô thường, nay còn mai mất, nay có mai không, chẳng cái gì bền vững. Và lớn như một đế quốc, như vũ trụ, nhỏ như một hạt bụi đều chuyển biến. Chuyển biến và đổi thay. Trong một satna là cái thời gian ngắn bằng 1/90 của một giây đồng hồ, như là một cái chớp mắt vậy, mọi sự mọi vật đều chuyển biến qua bốn giai đoạn: cái sinh ra, cái tồn tại, cái hao mòn và cái mất đi. Trong kinh gọi là “ thành, trụ, hoại không“ và trong các loài sinh vật thì "sinh, lão, bệnh, tử" . Chúng ta đang cười và chúng ta nhìn nhau vui ở đây, mà cả anh, cả tôi, cả cụ, cả cháu đều đang già đi một tí đấy. Cuộc đời nó biến chuyển như vậy đó. Thành ra, cuộc đời là đau khổ - Khổ đấy! Nhưng mà trong cái khổ đó nó có cái vui, và người có đạo là người biết nhận cái khổ làm cái của mình và đương đầu phấn đấu với cái khổ. Từ cái khổ ấy để mà tiến lên, mà thoát nghiệp. Người tu đạo Phật là người chuyển nghiệp, chứ không phải là người ôm cái nghiệp vào mình rồi bảo, đây là số mệnh, ta phải chịu. Ta không phải chịu một cái gì hết. Ta phấn đấu để sống và cải tổ cái biệt nghiệp và chúng ta cải tổ cái đồng nghiệp tức là cái cộng nghiệp chung. Từ cái biệt nghiệp là thân phận cá nhân và cái đồng nghiệp hay là cộng nghiệp là cải tổ xã hội. Tu dưỡng bản thân cải tạo xã hội đấy là con đường tu cộng nghiệp và biệt nghiệp. Chứ tu không phải là cúi đầu mà ai đánh thì chịu trận. Không! Từ bi không phải là thụ động, và nhẫn nhục không phải là đê hèn. Từ bi không phải thụ động. Từ bi nhiều lúc phải đánh cho quân giặc một vài cái tát để nó tỉnh lên, nó đừng cướp nước.
Do đó, thưa quý ngài và quý vị.
Chúng ta quan niệm từ bi một cách sai lầm . Vào thế kỷ thứ 12, Hồi giáo tràn vào Ấn Độ tiêu diệt PG. Có nhiều người hiểu lầm rằng, thôi từ bi đừng có đánh nó. Bây giờ vì vậy mà tại Ấn Độ đạo Phật đã suy nhược, không còn như thời xưa nữa. Thành ra năm 1963 khi thuyết trình trước hội đồng hoằng pháp của Tổng hội PGVN tôi phát biểu rằng: “không biết các Ngài nghĩ sao chứ theo chỗ chúng con hiểu thì từ bi không thể là thụ động được. Ai đánh con thì con đỡ. Ai đánh con nữa, con sợ con chạy, nhưng con nếu hết đường chạy thì sao? Không lẽ con đứng đó cho người ta đánh chết à! Bây giờ con phải đánh lại, mà con muốn đánh lại để tự vệ vì Phật không dạy con là phải để yên cho người ta đánh chết. Bởi vì đạo Phật đã sản ra bao nhiêu anh hùng dân tộc”. Có một vị, đó chính là ngài Tịnh Khiết mới chỉ cho tôi rõ, Ngài nói rằng: “chú nói đúng đấy nhưng mà chú diễn tả cái đó một cách dịu dàng hơn” (Năm ấy tôi còn thanh niên). Do đó, chúng ta thấy đạo Phật với những giáo lý của đạo Phật: giáo lý vô ngã, giáo lý vô thường và giáo lý nhiều nhất là nguyên nhân của sự khổ, cách cứu khổ, khổ vì sao mà có và trong khi được cứu khổ rồi thì chúng ta được như thế nào? Đây là giáo lý, những giáo lý vừa hợp với đủ mọi trình độ. Cho nên, chúng ta thấy trong đạo Phật có những nhà bác học. Ba nhà bác học hiện kim nổi tiếng nhất trong khoa học tây phương mà tôi vừa đề cập ở trên đều có cảm tình với đạo Phật và có người còn là Phật tử nữa.
Chúng ta cũng nhìn thấy ở trong đạo Phật có những người rất là bình dân, vì quá bình dân đến mức chất phác, không có óc cầu tiến dù rằng đạo Phật chủ trương: Từ kẻ trí người ngu đều có thể phát triển, đều có Phật tính. Đấy là chúng ta thấy về giáo lý của đức Phật. Thế nên khoa học càng tiến bao nhiêu thì giáo lý của đạo Phật càng được minh chứng bấy nhiêu. Và một giáo lý lạ lùng lắm, ở trong kinh A Hàm có nói rằng, sau đây nhân loại đến một thời gian nào đó, trái đất này sẽ huỷ diệt. A Nan mới hỏi là: Bạch Thế Tôn, tại sao như vậy? Chính vì cái nghiệp con người quá nặng, Đức Phật trả lời.
Năm ấy tôi nhỏ tuổi lắm, tôi lớn lên ở chùa ... tôi mở kinh ở thư viện Chùa Quán Sứ Hà nội, đọc và nghĩ rằng làm gì có chuyện con người tự làm ra cái để tự huỷ diệt mình . Không phải tôi không tin nhưng cứ phân vân cho đến khi tôi học hết ở Chu Văn An năm 1953 trước khi vào Nam một năm. Tôi vẫn cho là thật kỳ lạ. Có ai mà tự làm cái tự huỷ diệt mình không? Dù tôi có nghĩ Đức Phật nói đúng nhưng Đức Phật cho phép rằng đừng có nhắm mắt mà tin. “Các ngươi tin ta mà không hiểu ta là các người bài báng, chê bai ta vậy” Tôi cứ ngẫm nghĩ, mỗi đêm thiền định có suy nghĩ theo cách Chính Tư Duy, nghiên cứu kinh sách chữ Hán. Chịu khó đọc, nhưng cứ tìm mãi đến ngày tôi lớn lên rồi thì mới biết là Đức Phật nói đúng. Cho đến giai đoạn này thì thấy Đức Phật nói rất đúng. Cái nghiệp của con người tự tạo ra và cái nghiệp ấy nó tiêu diệt con người và trái đất - Mô Phật – Lúc này tôi thấy đúng vì nó hiện ra trước mắt rồi, không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi thấy nhiều quốc gia đã làm được nguyên tử, thậm chí cả ông Bắc Hàn vừa làm ra nguyên tử. Rồi đến mấy ông khác. Có nguyên tử rồi cũng run, chứ không phải tôi không có nguyên tử rồi tôi không run. Ông Mỹ có nguyên tử cũng run, ông Ấn độ có nguyên tử mà cũng run. Anh đừng làm, đi vào đây, vào cái “cỗ” sáu bên đi. Sợ nguyên tử là vì nếu nguyên tử mà nó nổ thì chết hết cả đám. Chỗ này bấm nút bay chỗ kia, chỗ kia bấm nút bay chỗ này, và nó tự động bay với nhau, ai rồi cũng chết. Trước đây có một lần tôi có một người bạn Mỹ nói cho biết là có người đề nghị dùng vài ba trái bom nguyên tử cỡ trung bình là giải quyết vấn đề miền Bắc VN trong vòng từ ba ngày cho đến một tuần lễ là giải quyết xong chiến tranh VN. Tôi nói không được vì sau cái đó chỉ còn đá quặng thì còn giải quyết được gì nữa. Đất nước tôi không thể thành đá quặng. Đồng bào tôi không thể bị tiêu diệt. Không! chấm dứt. Tôi nói thẳng như vậy. Ai hiểu là ai cũng được. Nhưng mà người đó có thẩm quyền và tôi năn nỉ chấm dứt vì chúng ta có cách khác.....
Bây giờ chúng ta nhìn thấy trái đất mỗi ngày mỗi ô nhiễm, nếu không tin nữa thì cứ làm bauxit đi, cả đồng bằng miền Nam, MeKong và cả đồng bằng các sông ở Trung Việt và cả đồng bằng sông ngòi ở Trung Việt sẽ không còn chỗ sống nữa. Một đồng bằng Bắc Việt, không thể nuôi cả dân chúng miền Nam . Đấy, con người - thí nghiệm của con người tự giết con người và nhìn vào chung quanh trái đất ô nhiễm. Chúng ta nhìn thấy trái đất nung nóng như thế nào. Chúng ta nhìn thấy đất nước chúng ta, một khi trái đất nung nóng như thế nào, thì băng giá Bắc cực tan ra, thì nước biển dâng lên, nước biển dâng lên 2 mét nữa thôi thì bao nhiêu vùng đất của quê hương chúng ta chìm xuống biển. Cho nên trong Kinh A Hàm Đức Phật nói từ trước mà chúng ta không có nghe, rằng nhân loại và trái đất này có thể bị huỷ diệt vì chính cái nghiệp, nặng nghiệp của con người gây ra. Vậy thì cái câu xin khuyên là tu cái nghiệp đi một chút. Thiền đi một chút!
Chúng ta nhìn lại đất nước, tôi tin rằng những người CS bây giờ, họ hơn ai hết nói CS macxit muôn năm đấy! CS muôn năm đấy! Đảng muôn năm đấy! Họ nói như vậy . Vì sao họ nói như vậy? Là vì không có mac-xit, CS thì không có đảng, không có đảng thì họ không có độc quyền, không có độc quyền thì không có tiền bỏ túi. Thế nhưng mà nếu bây giờ nói cho họ biết về CS thật đúng như chủ nghĩa CS nói thì họ không dám nghe đâu. Họ thích chuyên chính nhưng không thích vô sản vì họ giàu gấp mấy chục ngàn lần chúng ta. Nếu các vị không tin, (và tôi hy vọng rằng họ nghe vài câu nói của tôi), các bạn cứ thử điều tra xem có bao nhiêu ngân hàng ở Thuỵ sĩ, có bao nhiêu ngân hàng ở Cali đứng tên những lãnh tụ của đảng hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp. Dân VN có thể không đủ phương tiện để kiểm tra nhưng mà người Mỹ họ biết rõ những người nào có bao nhiêu tiền. Một người chuyên viên có thể nhìn thấy xe hơi của tôi đi ngoài đường, họ bấm lên một cái họ biết tôi sinh ngày nào, con ai và ở đâu, tôi có bao tiền trong ngân hàng. Sự thật là như vậy, chứ không phải dấu diếm gì. Vì vậy cho nên một thế giới đầy tham nhũng, đầy tham lam, một thế giới trùm hết lên dân tộc VN đầy tham nhũng, đầy hà khắc, đầy khổ cực và đầy giằn vặt, được cai trị bởi những lính gác gọi là công an, hàng ngày kèm theo theo dõi, dân chúng hằng ngày khổ cực mà cụ Quảng Độ đã gọi là “nhà tù lớn”. Rồi thì họ muốn “bình yên” không bị ai phản đối thì họ phá mình. Họ phá mình, 5 điều như họ đã phá ở trong nước:
Điều thứ nhất, mời Đức tăng thống Thích Huyền Quang đi ra Hà nội ở. Mà người nào đến mời? Vì nó quan niệm là ngài bị giam lỏng thì ngài là tù mà họ là đại tướng công an thì tặng cho họ chức cai tù. Tôi muốn nói đến ông Nguyễn Văn Hưởng là đại tướng công an, đến bạch Ngài Huyền Quang là : “thưa cụ, cụ nên ra Hà Nội ở cho khí hậu nó mát để cụ chữa bệnh ngoài đó. Rồi đại hội sắp đến cụ ra mà nhận ngôi Pháp Chủ”. Đức Tăng Thống trả lời: “ Không, tôi già rồi, tôi chả thích đi đâu nữa, đau yếu, tôi đi làm sao được, tôi ở đây thôi”.
- Không được, cụ đau yếu thì có bác sĩ đi kèm cụ, cụ già không đi được thì chúng tôi cho người võng cụ, cụ phải đi.
Khi nhận được câu ấy gửi về tôi nghĩ: mời cụ đi Hà Nội rồi đến đại hội đảng nó tôn cụ lên ngôi Pháp chủ, cụ nói gì không cần biết, nó cứ để cụ ngồi đó, chụp hình và nó đứng ra đọc một bản văn và nó tuyên bố GHPGVNTN là phản động, và cụ là Pháp chủ chứ không có thèm làm Tăng thống. Thế là nó giải tán viện Tăng Thống. Đó là điều thứ nhất.
Điều thứ hai, cho xây ngay, sửa ngay cái phòng kín mít chỉ đặt một cái lỗ kính ánh sáng ở trên nơi chùa Lý Quốc Sư Hà Nội. Người của tôi đến điều tra xem sửa cái này để làm gì. “Nghe nói là chúng tôi được phép xây, để đem cụ Quảng Độ ra đây ở đấy“. Vậy là giải tán luôn hội đồng VHĐ. Nhưng chưa hết, muốn cho Thầy QĐ với 22 ban đại diện bận rộn, không còn làm gì chống đối được nhà nước CS nữa, bèn ra lệnh công an cấp phường, ngày nào cũng phải bắt những người này, từ viện trưởng cho đến 22 ban đại diện đi làm việc - tức là không sợ thất nghiệp - Cụ Quảng Độ và một số ban đại diện khá lớn không đi. Có một vài người thử đi xem làm sao. Cứ sáng lên tối về, cứ ra đó “nộp mạng”, trình diện và tối về.
Điều thứ ba quan trọng lắm. Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng họp với các tướng công an toàn quốc đưa ra một số kế hoạch đại cương và hạ lệnh rằng “phải xoá sổ GHPGVNTN càng sớm càng tốt”. Như vậy là thủ tướng đã hạ lệnh cho công an chuẩn bị xoá sổ GHPGVNTN.
Điều thứ tư, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ở Tân Tây Lan, một quốc gia gần quý vị đây khi bị người ta hỏi về những dân oan như thế nào, thì chủ tịch nước trả lời rằng, những kẻ nào lợi dụng tôn giáo để âm mưu lật đổ chế độ, sẽ phải đền tội đích đáng trước pháp luật. Kẻ ấy là Ai nếu không phải cụ Quảng Độ? Phải không? Vậy thì đã xây sửa phòng cho Cụ Quảng Độ ở, dù chưa xử án, mà chủ tịch nước đã tuyên án như vậy. Đó là điều thư tư.
Điều thứ năm: cho radio, đài, báo hai tháng rưỡi ròng rả, chửi ròng rã tên cụ Quảng Độ. Ai về nước thì nghe rõ. Hoà thượng Quảng Độ không nói một tiếng nào.
Đó là 5 việc trong nước.
Còn việc ở ngoài thì:
điều thứ nhất, có những phần tử bất đồng chính kiến ở trong Giáo hội, phá trong phá ra, phá trên phá xuống, phá dưới phá lên, vào trong những giáo hội, địa phương có, trung ương có. Và lập ra ba tổ chức. Tổ chức thứ nhất là Tăng Ni Hải Ngoại, ký truyền đơn chửi Giác Đức rằng “tên đầu sỏ Thích Giác Đức”. Chúng tôi hỏi Qúy đại biểu Đại Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN Hoa Kỳ và các châu rằng : Bây giờ tôi làm phần việc kế hoạch của giáo hội mà họ gọi tôi là “ tên đầu sỏ”. Dạ thưa quý ngài, quý vị, đài phát thanh nào hay gọi tên đầu sỏ. Có một vị nói lớn lên (trong hàng ngũ chư tăng): Cộng sản. Vậy thì tôi nói CS đang đặt bảng danh dự cho tôi. Do đó chúng ta nhìn thấy những biến cố hiện trạng của PG đang bị như thế nào.
Ngoài cái tổ chức ấy ra chúng ta nhìn thấy: tổ chức thứ hai là Thân hữu Già Lam và tổ chức thứ ba là Về Nguồn. Già Lam là tên một ngôi chùa, ngài trụ trì ở đó là Đại lão HT Thích Trí Thủ. Ngài rất thương tôi và tôi rất kính trọng ngài. Ngài là vị sư mà tôi làm việc bên cạnh nhiều nhất trong đời sống tu hành của tôi.
Chúng tôi đã là người đi tìm đất để làm chùa Già Lam, từng ủng hộ chùa Già Lam ... Nhưng tổ chức Thân Hữu Già Lam thì chỉ mới được kết hợp và thành lập bởi một số ít cựu học Tăng hiện đang sống ở hải ngoại. Và tổ chức thứ ba là Về Nguồn mới họp sơ bộ vài lần bán chính thức thì Giáo Chỉ số 9 ra đời và Về Nguồn đã chính thức ra mắt sau Giáo chỉ số 9 chỉ chừng hơn tuần lễ. Cả ba tổ chức Tăng Ni hải ngoại, Thân hữu Già Lam và Về Nguồn đều có khuynh hướng giống nhau là đứng ngoài GHPGVNTN và ngoài sự lãnh đạo của Viện Tăng Thống và Viện Hóa Đạo. Thế nên thành viên của ba tổ chức này đã không khâm tuân Giáo Chỉ số 9 và không tham dự Đại Hội Bất Thường vào tháng 10 năm 2007 tại chùa Bửu Môn để hoán chuyển và bổ sung các chức vụ của GHPGVNTN ngõ hầu cứu nguy cho Giáo Hội. Hơn nữa chúng tôi vẫn tin rằng “Gia bần tri hiếu tử!...” nhưng đã thất vọng vì thấy có những người bạn lâu đời, giờ lại ly khai Giáo Hội. Đây là điểm càng trở nên nghịch lý, là bởi vì GHPGVNTN từ Ngài Đại lão Hoà Thương Thích Tịnh Khiết cho đến suốt bốn đời các Đức Tăng Thống, có biết bao nhiêu các vị Hòa thượng, Thượng Tọa, Đại đức, Tăng ni đã hy sinh và biết bao nhiêu thánh tử đạo đã tự thiêu mới thành lập nên GHPGVNTN thoát ra được dụ số 10. Ba tổ chức này đã làm méo mó tất cả, nên tôi gọi là nghịch lý.
Ba tổ chức hải ngoại và năm biến cố trong nước đều nhằm xóa sổ GHPGVNTN, mà nếu họ không làm được thì biến nó thành một GHPGVNTN có tính cách như giáo hội nhà nước thứ nhì hoàn toàn do đảng CS kiểm soát.
Qua Giáo Chỉ số 9, Đức Đệ Tứ Tăng Thống đã chỉ định Văn Phòng II trong trường hợp khẩn cấp ... có toàn quyền điều hợp cả trong lẫn ngoài, không những các GHPGVNTN trên toàn thế giới mà luôn cả trong nước nữa.
Kính thưa quý ngài, thưa quý liệt vị và anh chị em,
Trước hương linh của Đức cố Tăng thống và trước sự linh thiêng của lá cờ Phật Giáo thế giới, tôi tuyên bố rằng, nếu không có giáo chỉ số 9 thì GHPGVNTN đã tan nát hết rồi, không còn như ngày hôm nay. Cho nên dù bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta cũng phải bảo vệ GHPGVNTN. Riêng phần chúng tôi, trước khi có Giáo Chỉ số 9, tôi đã làm Phó Chủ Tịch Văn Phòng II, nhưng sau khi có Giáo Chỉ số 9 tôi cũng chỉ là 1 Tổng Ủy viên thôi. Nói thế để trả lời cho sự xuyên tạc rằng Quý Thầy trong Văn Phòng II muốn “có thêm chức vị”.Chúng tôi vừa trình bày về Đức Giáo Chủ, Đặc tính Giáo Lý và hiện tình Giáo Hội, xin phép được kết luận:
Kính thưa Quý Ngài, quý vị và anh chị em,
GHPGVNTN được thành lập từ năm 1964, nhưng sự thành hình từ các danh hiệu cho đến mọi phiên họp của Đại hội đã được Chư vị Tôn Túc dự trù từ ngày 31/12/1963. Năm ấy tôi 29 tuổi đã được Quý Ngài và Quý Đại biểu chọn là một vị sư trẻ nhất (trong Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo) để làm chủ toạ tiền hội nghị, thành lập GHPGVNTN. Từ đó cho đến nay tôi chỉ xin một điều là nếu có sự chia rẽ nào, bị ảnh hưởng bên ngoài, thì chúng ta trong Phật giáo phải bao dung nhau; tay phải mà đánh tay trái hay tay trái mà cố tình đánh tay phải thì chúng ta bị thương chứ không phải riêng cánh tay bị thương. Cho nên người phật giáo phải yêu thương nhau và kính trọng nhau.
Tôi xin cảm ơn quý ngài và quý vị và anh chị em. Xin phép hồi hướng công đức.
http://www.vietland.net/main/showthread.php?s=b12e4301fe03cca55a617d9dad40a4fd&t=8099
Thứ Ba, 28 tháng 7, 2009
THƯ CẢM TẠ
THE VIETNAMESE AMERICAN UNIFIED BUDDHIST CONGRESS IN THE UNITED STATES OF AMERICA
CHÙA ĐIỀU NGỰ
14472 Chestnut St.; Westminster, CA 92683; Tel: (714) 890-9513; http://us.mc656.mail.yahoo.com/mc/compose?to=Email%3Achuadieungu@gmail.com
THƯ CẢM TẠ
CỦA BAN TỔ CHỨC LỄ TIỂU TƯỜNG
ĐỨC CỐ TĂNG THỐNG THÍCH HUYỀN QUANG
Kính bạch chư Tôn đức Giáo phẩm,
Kính thưa quí vị lãnh đạo tinh thần các Tôn giáo, quý vị Dân cử đại diện các cấp chính quyền, quý Nhân sĩ, các
Tổ chức, chính Đảng, Cộng đồng, Hội đoàn, cùng toàn thể đồng hương, Phật tử,
Thưa chư liệt vị,
Lễ Tiểu Tường đức cố Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang, bậc cao Tăng thạc đức, vị lãnh đạo tối cao của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã phụng hiến đời mình cho đạo pháp, dân tộc và nhân loại vừa được Văn Phòng II Viện Hóa Đạo và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ tổ chức tại Chùa Điều Ngự thật trang nghiêm, long trọng và thành tựu viên mãn:
Thay mặt Ban Tổ Chức chúng con, chúng tôi xin thành tâm đảnh lễ thâm tạ chư Tôn đức Giáo phẩm, quí vị lãnh đạo tinh thần các Tôn giáo, quí vị Dân biểu, Giám sát viên, Nghị viên đại diện các cấp chính quyền, quí vị Nhân sĩ, quý vị lãnh đạo các Cộng đồng, chính Đảng, Đoàn thể, quý cơ quan Truyền thông và quý đồng hương, Phật tử, nhất là quí vị từ các nơi xa đã dành thời gian quí báu quang lâm tham dự đại Lễ thật đông đảo.
Sự hiện diện của chư liệt vị đã biểu tỏ đạo tình thâm thiết đối với bậc thánh Tăng, một biểu tượng ngời sáng đã và đang tiếp tục soi đường cho Văn Phòng II Viện Hoá Đạo GHPGVNTNHN/HK trên bước đường vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền và toàn vẹn lãnh hải, lãnh thổ Việt Nam.
Một lần nữa xin thành tâm cảm tạ .
Westminster, ngày 27 tháng 7 năm 2009
TM.Ban Tổ Chức
TTK VP II Viện Hoá Đạo
TT THÍCH VIÊN LÝ
Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang, Bậc Thánh Tăng Siêu Xuất
Giữa bối cảnh của một Việt Nam đầy nhiễu nhương thống khổ, hết chiến tranh ý thức hệ đến nạn độc tài Cọng sản, bậc Thánh Tăng thạc đức đã xuất hiện, bậc thánh Tăng thạc đức đó chính là đức cố Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang. Ngài đã không chỉ là một thánh Tăng mà còn là ngọn hải đăng giữa đêm dài lịch sử, một biểu tượng ngời sáng cho công cuộc vận động tự do, dân chủ và nhân quyền. Cả đời, Ngài đã đánh đổi sự tự do cá nhân để mưu tìm nền hoà bình và tự do đích thực cho dân tộc và thế giới nhân loại.
Bằng một đạo phong dung dị, từ hòa, an nhẫn nhưng rất cương dũng, Ngài chưa bao giờ biết lùi bước trước chướng duyên, thách đố và hiểm nguy. Cọng Sản có thể nhốt tù Ngài nhưng họ không thể biến Ngài thành công cụ của chế độ.
Một cách dứt khoát, khi trực diện với thế lực vô minh manh động, Ngài khẳng khái minh thị:
“Phật giáo Việt Nam là một thực thể dân tộc. Từ bình minh của lịch sử Việt đã có đóng góp lớn trong việc dựng Nước, khai dòng văn hiến, có kế thừa sau trước, từ lịch đại Tổ sư đến các Bồ tát tử đạo, mà GHPGVNTN là sự truyền thừa chính thống và đại diện duy nhất của toàn thể quần chúng Phật tử Việt Nam. Trên bình diện quốc tế, GHPGVNTN là thành viên sáng lập phong trào Phật giáo quốc tế tại Colombo, thủ đô Tích Lan, năm 1950 mang tên “Liên Hữu Phật Gáo Thế Giới”. Không một tổ chức Phật giáo nào khác, do tư nhân hay thế quyền thiết lập cho những mục tiêu sai khác với Hiến Chương của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có thể thay thế hoặc điều khiển GHPGVNTN trong việc hướng dẫn Phật sự cho Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước và đại diện Phật giáo Việt Nam trên trường quốc tế.
Hành động gần đây của Đảng Cộng sản và Nhà nước CHXHCNVN, qua tay Ban Tôn Giáo Chính Phủ và Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, đối với Văn Phòng lưu vong Viện Hoá Đạo GHPGVNTN và Quyền Viện Trưởng Viện Hoá Đạo, vừa phản hiến pháp, phi pháp luật, vừa vi phạm Công ước Quốc tế về Quyền Công dân và Quyền Chính trị của Liên Hiệp Quốc mà nhà nước CHXHCNVN là thành viên và đã ký kết tôn trọng.
Đảng và Nhà nước CHXHCHVN phải khởi sự ngay tiến trình dân chủ hóa chế độ bằng cách để cho xã hội công dân hình thành, thông qua các quyền cơ bản như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, tự do lập hội … Một trong nững nét đặc điểm của nền văn minh Việt Nam là đức hạnh. Hai mươi thế kỷ qua, nhân dân Việt nam là một tổ họp của quần chúng có tín ngưỡng. Các lực lượng tôn giáo, trong đó có Phật giáo, hiện tập trung đông đảo nhất các tầng lớp nhân dân, với khả năng vô song để thực hiện việc hoá giải thù hận và tái thiết đất nước sau 50 năm chiến tranh thừa sai cho cuộc tranh chấp lưỡng cực quốc tế. Do đó, đàn áp tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng, là tiếp diễn cuộc chiến tranh lạnh lỗi thời, đồng lúc phá hoại tìm lực dựng xây tổ quốc. Phải chấm dứt ngay chính sách đàn áp GHPGVNTN”[1]
Trải qua biết bao gian khó, lúc âm thầm khi dũng liệt, Ngài không ngừng tận tuỵ hy hiến cho tiền đồ của đạo pháp, dân tộc và sinh loại. Những phẩm hạnh cao quý của một bậc thạc đức phạm hạnh đều có thể tìm thấy trong con người bình dị nhưng thoát tục của đức Tăng Thống Thích Huyền Quang.
Là một tù nhân lương tâm của nhiều chế độ, đặc biệt suốt trên ba thập niên dưới chế độ Cọng Sản, bất chấp mọi bất trắc, khủng bố, đe doạ, Ngài không ngừng lên tiếng về những bất công, độc tài, thối nát của một chủ nghĩa phi dân tộc và phản dân chủ. Ngài kêu gọi Cọng Sản hãy thành tâm sám hối trước quốc dân, đồng thời tôn trọng linh quyền của người chết và nhân quyền của người sống, “lấy ngày 30.4 làm ngày sám hối và chúc sinh toàn quốc, sám hối với người chết và chúc sinh người sống.”[2]
Là một nhà lãnh đạo kiệt xuất, Ngài không chỉ có những viễn kiến chân xác về mọi diễn biến phức tạp mà còn có những quyết định cương dũng, sáng suốt, giúp Giáo Hội vượt qua nhiều cạm bẫy do CSVN cài đặt và duy trì được mạng mạch của Giáo Hội cho đến ngày nay.
Đã có lúc Ngài sống đời sống hoàn toàn bị cô lập, một mình, đơn độc giữa một cánh đồng khô khốc, hoang vắng, lúc nào cũng có những cặp mắt công an theo dõi, canh chừng, nhưng trong hoàn cảnh cô độc đầy khó khăn như thế, Ngài đã tự chứng tỏ cách nổi bật đạo phong xuất chúng và tuệ giác siêu việt của đấng “tòng lâm thạch trụ”, đã liên tục cất lên tiếng nói đầy uy dũng trước bạo quyền, đã gìn giữ được “tổ ấn tông phong” cũng như sự có mặt cần thiết GHPGVNTN trong lòng dân tộc.
Để nêu bật bản hạnh siêu việt của Ngài, tờ Los Angeles Times đã đã viết, “[đức Tăng thống Thích Huyền Quang] là người đề xướng kiên cường cho tự do tôn giáo và nhân quyền” và đã dẫn lời của nhà đấu tranh nhân quyền Faulkner: “đức Tăng Thống Thích Huyền Quang là người mở đường [cho nhân quyền và dân chủ], đây là lý do vì sao nhà cầm quyền Việt Nam cách ly Ngài, gạt ngài khỏi các cuộc hoạt động. Nhưng Ngài vẫn bền bỉ đấu tranh cho đến giây phút cuối cùng.”
Cộng sản Việt Nam không ngừng tìm đủ mọi cách triệt hạ uy tín Ngài, nhưng họ càng triệt hạ, uy tín Ngài càng được nâng cao trên khắp năm châu.
Qua đời sống đạo hạnh, lợi tha của Ngài, rõ ràng Ngài đã tạo một phong cách riêng nhưng đồng lúc để lại một bài học chung vô giá đó là: Sống thiếu can đảm, không từ bi, vô trí tuệ là huỷ diệt sự sống, dù đang sống nhưng đã thật sự chết.
Đời sống của Ngài tự nó đã thật sự minh chứng đời sống của bậc thể nghiệm chân lý, vì hơn ai hết Ngài tri nhận lẽ vô thường biến dịch và tự tính vô ngã của muôn hữu nên, tù tội, chết chóc không thể ảnh hưởng, đe doạ và làm thay đổi tâm hạnh thượng cầu hạ hóa của bậc Thánh Tăng.
Bản thệ và công hạnh xuất trần bạt tục bất khả tư nghị của đức cố Tăng Thống Thích Huyền Quang đã để lại trong dòng lịch sử Phật giáo và dân tộc, đặc biệt trong mỗi trái tim chúng ta một dấu ấn hết sức đặc hữu.
Trước thực trạng khổ đau của đồng bào và nhân loại, với tâm từ bi vô lượng, Ngài đã thiết tha kêu gọi:
“Xin chư liệt vị hãy hóa thân vào nền văn minh của trí tuệ Bát Nhã, làm bản tâm cho bậc nhân đức cứu nguy đất nước và loài người. Chẳng ai thoát khỏi sinh, lão, bệnh, tử đang ngày đêm làm rối loạn thể chất thế nhân. Nhưng với người thực hành Bồ tát đạo, thì sinh, lão, bệnh, tử lại là phương tiện tỉnh giác tiến hành cho sự lợi ích và giác ngộ muôn loài.”[3]
Đối với thảm trạng tang thương của đất nước và suy vi của đạo pháp, đức cố Đệ Tứ Tăng Thống bi mẫn khuyến thị:
“Trong thời đại phân hóa, tranh chấp, thù hận, đổ vỡ hôm nay, Tứ chúng (tức Tăng, Ni, Nam cư sĩ và Nữ cư sĩ) nơi ngôi nhà Phật giáo phải là hình ảnh treo gương cho sự hòa hợp, huynh đệ, yêu thương, xây dựng (...) Tôi xin kêu gọi Tứ chúng nhất tâm KHOAN HÒA và ÐỒNG NHẤT trước mối mâu thuẫn tranh chấp của thế nhân, như sự hiến cúng có ý nghĩa nhất trong ngày Phật Ðản. Vì từ sự hiến cúng này, mà con đường Hoằng dương Chánh pháp mới sẽ khai lộ từ quê hương Việt sang tới phương Tây. Do vậy, cần ý thức đến hiện trạng vong thân và vong quốc, hầu hiển lộ Pháp tánh giác ngộ và cứu khổ. Nhờ tính chất giác ngộ và cứu khổ mà Ðạo Phật vượt trên mọi biên thùy, vượt ngoài các dị biệt văn hóa, mở ra phương trời giải thoát cho mọi loài chúng sinh nơi tam thiên đại thiên thế giới.”[4]
Việt Nam chúng ta đang đứng trước nguy cơ mất nước, dân tộc nghèo đói, lạc hậu, thiếu tự chủ, nhân quyền và tự do, các tôn giáo đang trong tình trạng bị khủng bố, đe doạ, cấm cản, đặc biệt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đang trong tình trạng bị bức hại, hơn bất cứ lúc nào, lời kêu gọi của đức cố Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang càng được triệt để phát huy và ứng dụng.
Tưởng niệm đến ân đức sâu dày của đức cố Tăng Thống Thích Huyền Quang chúng ta không chỉ thuần tuý tán dương công hạnh của Ngài, mà điều quan trọng là, làm thế nào, chúng ta quyết tâm hơn nữa, nỗ lực làm sống dậy tinh thần từ bi, vô uý, bất khuất mà khi còn sinh tiền đức cố Đệ Tứ Tăng Thống đã thể hiện, càng quan trọng hơn nữa là, bằng mọi cách, hậu thuẫn Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hoá Đạo, đồng thời hết lòng tranh đấu để giải trừ quốc nạn và pháp nạn nhất là kế thừa xứng đáng bản hoài vị tha vô ngã mà bậc thánh Tăng đã hiển thị.
Trong tinh thần biết ơn và báo ân sâu xa, chúng con nguyện tích cực dấn thân nhằm đền đáp phần nào trong muôn một ân đức giáo dưỡng, hoằng hóa sâu dày của Ngài, cúi xin giác linh đức Đệ Tứ Tăng Thống thuỳ từ chứng giám và gia hộ cho chúng con.
Hậu học
Thích Viên Lý
[1] Tuyên Cáo giải trừ Quốc nạn và Pháp nạn
[2] Thư gởi các ông Lê Khả Phiêu, Trần Đức Lương, Phan Văn Khải, Nông Đức Mạnh, ngày 21.4.2000
[3] Thông Điệp Phật Đản Pl 2552
[4] Thông Điệp Phật Đản PL 2548
Thứ Hai, 22 tháng 6, 2009
Kêu gọi Úc Đại Lợi khẩn cấp tham gia bảo vệ an ninh vùng Á châu Thái Bình Dương
Tại thủ đô Canberra, Phái đòan Văn phòng II Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, kêu gọi Úc Đại Lợi khẩn cấp tham gia bảo vệ an ninh vùng Á châu Thái Bình Dương và áp lực cho tự do tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam2009-06-17 PTTPGQT
CANBERRA, ngày 17.6.2009 (PTTPGQT) - Phái đoàn Văn phòng II Viện Hòa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, vừa đến Úc trong một chuyến đi thuyết trình từ ngày 12 đến 22.6.2009. Chuyến đi của Phái đoàn nhằm Ra mắt tập “Thơ Tù” của Hòa thượng Thích Quảng Độ đồng thời thuyết trình về hiện tình của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN). Thượng tọa Thích Phước Nhơn, Tổng Ủy viên Đặc trách Liên lạc và Đại diện Giáo hội tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, Viện chủ chùa Phổ Minh tại Perth và chùa Phổ Quang tại Bankstown, là Trưởng ban Tổ chức chuyến thuyết trình qua các thành phố Brisbane, Sydney, Canberra, Perth, Adelaide và Melbourne.Trong chuyến thuyết trình qua các Cộng đồng người Việt, Phái đoàn Văn phòng II Viện Hóa Đạo đã nhận lời mời của ông Laurie Ferguson, Bộ trưởng Liên bang về Liên lạc Quốc hội và Sắc tộc sự vụ, dùng cơm trưa tại Quốc hội để tường trình tình hình vi phạm nhân quyền và tôn giáo tại Việt Nam. Chư Tăng Ni Phái đoàn GHPGVNTN đến Quốc hội Úc Đại Lợi ở thủ đô Canberra gồm có Đại lão Hòa thượng Thích Hộ Giác, Phó Tăng thống kiêm Chủ tịch Văn phòng II Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, Thượng tọa Thích Viên Lý, Tổng Thư Ký Văn phòng II VHĐ (VP II VHĐ), Pháp sư Niên trưởng Thích Giác Đức, Tổng Ủy viên Nghiên cứu Kế hoạch, VP II VHĐ, Hòa thượng Thích Thiện Tâm, Tổng Ủy viên Liên lạc Canada, VP II VHĐ, kiêm Chủ tịch GHPGVNTN Hải ngoại tại Canada, Thượng tọa Thích Phước Nhơn, Tổng Ủy viên Đặc trách Liên lạc và Đại diện Giáo hội tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, VP II/VHĐ, Sư Cô Thích Nữ Bảo Sơn và Sư Cô Thích Nữ Bảo Trường. Tháp tùng Phái đoàn chư Tăng còn có Đạo hữu Võ Văn Ái, Phát ngôn nhân Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, kiêm Tổng Ủy viên Ngoại vụ Văn phòng II Viện Hóa Đạo, và Đạo hữu Ỷ Lan, Phó giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, Đặc trách Vụ Quốc tế.Tiếp đón Phái đoàn, về phía chính giới Úc Đại Lợi gồm có ông Laurie Ferguson, Bộ trưởng Liên bang về Liên lạc Quốc hội và Sắc tộc sự vụ, cùng với các Dân biểu đại diện hai đảng Lao Động và Tự do, gồm có Dân biểu Michael Danby, Chủ tịch Phân ban Đối ngoại, Dân biểu Kerry Rea, Chủ tịch Phân ban Nhân quyền Quốc hội, Dân biểu Mark Dreyfus, Dân biểu Jason Clare, Dân biểu Graham Perrett, Dân biểu Julie Bishop, Phó ban lãnh đạo kiêm Ngoại trưởng Đối lập, Dân biểu Sharman Stone, Bộ trưởng nhập cư và công dân Đối lập, Dân biểu Bernie Ripoll, và Dân biểu Luke Simpkins.Nhân danh Phát ngôn nhân của Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, ông Võ Văn Ái kêu gọi Úc Đại Lợi áp lực cho việc thăng tiến Nhân quyền tại Việt Nam. Ông cho biết từ khi Việt Nam mở cửa theo nền kinh tế thị trường tự do ai cũng nói tới sự phát triển phồn thịnh. Nhưng bên sau sự mở cửa kinh tế ấy, Việt Nam là một xã hội đóng kín về chính trị, nơi mà mọi quyền cơ bản và tự do đều bị khước từ. Đảng Cộng sản kiểm soát mọi khía cạnh của đời sống con người. Không có truyền thông, báo chí tư nhân, không có nghiệp đoàn độc lập, không có xã hội công dân độc lập, không có đối lập. Chỉ có những tôn giáo do Nhà nước thiết lập mới được quyền hoạt động, những tôn giáo độc lập như GHPGVNTN đều bị giải trừ. Mạng Internet bị kiểm soát gắt gao. Dân chủ, đa nguyên là những đề tài cấm kỵ.Ông Ái nhấn mạnh rằng, trong khi Việt Nam tìm cách đóng những vai trò trong cộng đồng thế giới, thì lại không chịu tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế, và hoàn toàn chống đối việc cải thiện chính trị. Minh chứng rõ ràng nhất là gần đây tại kỳ Kiểm điểm Thường kỳ Toàn diện tại Hội đồng Nhân quyền LHQ ở Genève hôm đầu tháng 5 vừa qua, các nước thành viên LHQ, trong có Úc Đại Lợi, đã khuyến thỉnh những cải cách cụ thể như cho phép ra báo tư nhân và độc lập, bãi bỏ những sắc luật hạn chế tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, chấm dứt việc tra tấn và quản chế hành chính. Nhưng Việt Nam đã bác bỏ các lời khuyến cáo này.Hôm nay, trong hoàn cảnh thiếu vắng đối lập, các phong trào tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo một tôn giáo lớn, đang là tiếng nói đại biểu cho các xã hội dân sự. GHPGVNTN đang đóng vai trò thiết yếu cho khối Dân Oan và những đòi hỏi nhân quyền. Nhưng kết quả là GHPGVNTN trở thành đích nhắm cho mọi sự đàn áp. Hàng giáo phẩm và các thành viên Giáo hội bị bắt giam, hăm dọa và sách nhiễu. Nhà lãnh đạo GHPGVNTN, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, được đề cử ứng viên Giải Nobel Hòa bình năm 2009, bị tù đày, quản chế suốt 27 năm ròng vì ôn hòa bênh vực cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ. Hiện ngài đang bị quản chế tại Thanh Minh Thiền viện ở Saigon. Công an canh gác chặt chẽ, mất hết mọi tự do, nhưng Hòa thượng vẫn cất lời kêu gọi cho dân chủ và nhân quyền.Gần đây, Hòa thượng cất lời kêu gọi cho một vấn đề quan thiết không riêng cho Việt Nam mà cả toàn vùng Á châu Thái bình dương. Đó là sự xâm lấn lãnh thổ lãnh hải Việt Nam. Năm 1999 và năm 2000 Việt Nam đã ký kết hai hiệp ước trên đất liền và trên biển qua đó dâng hiến nhiều đất và biển cho Bắc Kinh. Trung quốc cũng xâm lấn hai quần đảo Hoàng Sa va Trường Sa, áp lực các công ty Tây phương ngưng khai thác dầu lửa cho Việt Nam trên các quần đảo này. Tàu chiến Trung quốc bắn vào tàu đánh cá Việt Nam cấm họ đánh cá trên hải phận của Việt Nam.Lời kêu gọi Tháng 5 Bất tuân Dân sự - Biểu Tình Tại gia công bố hôm 29.3.09, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ tố cáo Việt Nam nhượng bộ khai thác quặng bô-xít cho Trung quốc trên Tây nguyên. Dự án này đã gây lên sự phản đối của hàng nghìn nhà khoa học, nhà môi sinh, và ngay cả giới chuyên gia quân sự. Vì lý do gây ra đại nạn sinh thái, ô nhiễm rừng, trời và các mạch nước, lòng sông, hủy hoại vùng xanh Tây nguyên, phá hoại văn hóa các sắc tộc dân lưu cư. Nhưng nguy hại hơn cả là nguy cơ mất nước cho dân tộc Việt Nam. Tây nguyên là nóc nhà của ba nước Cam Bốt - Lào- Việt Nam, là vùng yết hầu quân sự. Thế mà hàng chục nghìn công nhân Trung quốc sẽ đổ vào Tây nguyên. Chinalco là công ty Trung quốc mà Úc Đại Lợi rất quen thuộc là một trong những công ty khai thác bô-xít. Lời Kêu gọi nói trên của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ nhằm ngăn chặn dự án này.Trong cuộc trao đổi với chính giới Úc tại thủ đô Canberra Phái đoàn Văn phòng II Viện Hóa Đạo và ông Võ Văn Ái đã kêu gọi Úc Đại Lợi lưu tâm đến việc Trung quốc xâm lấn lãnh thổ Việt Nam và các nước Đông Nam Á cũng như nỗ lực của Trung quốc nhằm kiểm soát các đường biển thuộc vùng Á châu Thái Bình Dương. Do Úc Đại Lợi là đối tác và có quan hệ giao hữu với Việt Nam, Phái đoàn kêu gọi Úc Đại Lợi :
- lưu tâm đến vấn đề quan thiết với Trung quốc nói trên, để kết liên với các nước dân chủ trong vùng nghiên cứu các biện pháp bảo đảm an ninh cho vùng Á châu Thái Bình Dương ;- áp lực Việt Nam có những bước tiến cụ thể trong vấn đề thực thi nhân quyền tại Việt Nam qua những hành động sau đây :
1. Phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và bảo đảm mọi quyền tự do sinh hoạt tôn giáo. Là một xã hội dân sự lớn và quan trọng, GHPGVNTN có thể đóng vai trò chủ yếu cho Việt Nam trên phương diện tâm linh, giáo dục, văn hóa, xã hội, và phát triển kinh tế ;2. Trả tự do cho Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ và tất cả tù nhân bị bắt vì lý do biểu tỏ ôn hòa quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, và chấm dứt mọi sự sách nhiễu, khủng bố các thành viên GHPGVNTN ;3. Cho phép báo chí tư nhân và độc lập ra đời theo lời yêu cầu năm 2000 của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ. Phần kết luận, ông Võ Văn Ái nhận thức rằng tự do tôn giáo là chìa khóa cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam. Nên ông kêu gọi Phân ban Nhân quyền Quốc hội tổ chức cuộc điều trần tại Quốc hội về hiện tình GHPGVNTN và các phong trào đòi hỏi cho tự do tôn giáo, dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam.
Thứ Năm, 28 tháng 5, 2009
THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 27.5.2009
THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 27.5.2009
Thượng tọa Thích Viên Định nói về Pháp lý của GHPGVNTN – Vụ trưởng Gia Đình Phật tử vụ, Lê Công Cầu, viết Giác thư khuyên nhủ Trần Thanh
PARIS, ngày 27.5.2009 (PTTPGQT) - Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế vừa nhận được hai văn kiện trong nước gửi ra để phổ biến. Hai văn kiện liên quan đến sự sách nhiễu, đàn áp của nhà cầm quyền Hà Nội đối với 20 Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) ở các tỉnh Miền Trung và Miền Nam trong Mùa Phật Đản, mà đồng thời cũng là “Tháng 5 Bất Tuân Dân sự - Biểu tình Tại gia” do Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, GHPGVNTN, công bố hôm 29.3.2009.
Trong cuộc sách nhiễu, đàn áp các Ban Đại diện GHPGVNTN này, Nhà cầm quyền Cộng sản thường rêu rao rằng GHPGVNTN “bất hợp pháp”, vì đã sáp nhập vào “Giáo hội Phật giáo Nhà nước” năm 1981. Thượng tọa Thích Viên Định, Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, viết bài “Vấn đề Pháp lý của GHPGVNTN” phản biện luận điểm hồ đồ và phi pháp của Nhà nước Cộng sản.
Nhà cầm quyền Cộng sản tỏ ra vô cùng sợ hãi “Lời Kêu gọi Tháng 5 Bất tuân Dân sự - Biểu tình Tại gia” của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, nên đã viết bài trên báo An Ninh Thế giới của Bộ Công an mạ lỵ cuộc “Biểu tình Tại gia” trong số ra ngày 23.4.2009, và sang ngày 27.4.2009 báo Công an Nhân dân TP Hồ Chí Minh viết bài mạ lỵ ông Võ Văn Ái, Phát ngôn nhân Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, kiêm Giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế ở Paris, là cơ quan phổ biến Lời Kêu gọi. Những bài chẳng đáng quan tâm. Vì con thú cộng sản bị thương nên thấy cành cây tưởng cánh cung bắn nó, như một phản ứng Pavlov mà người đọc đã chán ngấy thứ ngôn ngữ chợ trời suốt mấy chục năm qua trên khắp mặt báo cộng sản.
Nhưng điều thú vị là trước hàng nghìn chữ ký tự phát của các tổ chức, đảng phái, hội đoàn, tôn giáo ở hải ngoại hưởng ứng và hoan nghênh Lời Kêu gọi của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, thì bỗng nhiên trên sa mạc tuyệt vọng phát ra tiếng rên rỉ của một vài bài chống đối của mấy kẻ tự nhận “Chống Cộng liệt mình”, kiểu Trần Thanh, a tòng mạ lỵ Lời Kêu gọi, một đồng một cốt với giọng điệu thất thanh của Bộ Công an ở Hà Nội.
Vì vậy phản ứng của người trong nước, từ Huế, cất lên dưới ngòi bút của Huynh trưởng Lê Công Cầu, Vụ trưởng Gia Đình Phật tử Vụ, Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, qua bài viết “Thư khuyên nhủ Trần Thanh, và ý nghĩa “Lời Kêu gọi Tháng 5 Bất tuân dân sự - Biểu tình Tại gia” của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ.
Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin đăng tải dưới đây toàn văn hai văn kiện này :
Vấn đề Pháp lý củaGiáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN)
I. Pháp lý Phật Giáo Thời Độc lập Tự Chủ :
“Phật Giáo truyền vào Việt Nam vào từ đầu thế kỷ I Tây lịch, nhưng mãi đến thế kỷ VIII mới thật sự phát triển, nhịp nhàng với thời kỳ đất nước bước vào thời đại tự chủ, thoát khỏi ách đô hộ phương Bắc thời đó.
Trong thời gian ấy các nhà truyền giáo Việt Nam đã khéo léo đưa Phật giáo vào lòng dân tộc mỗi lúc mỗi sâu đậm, đến nay chúng ta không tìm đâu ra trong Phật giáo một dấu vết gì gọi là ngoại lai hay phi dân tộc. Đó là thành công lớn lao trong sự nghiệp truyền giáo của Tổ tiên chúng ta. Mặt khác, các nhà truyền giáo lúc bấy giờ cũng đã thành công nhiều trong sự nghiệp xây dựng đất nước, trong tư thế tự chủ hùng cường đối với phương Bắc sau bao thế kỷ bị đô hộ. Các nhân vật Phật giáo có công với đất nước như : Thái sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu thời Đinh (968-980) và thời tiền Lê (980-1009) ; Quốc sư Vạn Hạnh thời Lý Công Uẩn, Quốc sư Khô Đầu thời Lý Nhân Tôn, Quốc sư Minh Không thời Lý Thần Tôn, Quốc sư Viên Thông thời Lý Anh Tôn (1010-1225) ; Quốc sư Phù Vân Trần Thái Tôn v.v…và đã giúp các vua nhà Trần như : Thái Tôn, Nhân Tôn xuất gia đầu Phật sau khi bình định được các giặc giã bên ngoài mỡ rộng bờ cõi, xây dựng nước nhà vững mạnh (1225-1400). Các vị Tổ sư truyền giáo của chúng ta các thời ấy không hề cầu xin các triều đại pháp lý nào cả mà chính các triều đại ấy đã khâm ban tôn phong các Ngài những tước hiệu lớn lao vinh dự hơn cả ngôi vua thì có pháp lý hành chánh thông thường nào hơn thế nữa !” (trích Bản tham luận của GHPGVNTN kỳ VII năm 1977)
II. Pháp lý Phật Giáo thời Pháp thuộc đến chế độ Ngô Đình Diệm (1858- 1963) :
Khi đất nước bước vào thời kỳ suy vi thì Phật giáo cùng chung số phận với dân tộc. Nghĩa là khi giặc Pháp xâm chiếm xứ sở thì nước mất nhà tan và Đạo pháp cũng suy sụp.
Tuy nhiên, vào các thời kỳ 1925- 1930, phong trào chấn hưng Phật giáo bắt đầu hoạt động thì thực dân Pháp bắt buộc các tổ chức Phật giáo Trung-Nam-Bắc thời đó muốn hoạt động phải chịu sự kiểm soát của chúng bằng những pháp lý cay nghiệt do các tên toàn quyền thuộc địa quyết định. Đó là những pháp lý tạm thời bất đắc dĩ và tủi nhục của một Tôn giáo cổ truyền của dân tộc từ địa vị một Tôn giáo xuống hàng Hiệp hội thông thường, và có lẽ chúng ta không bao giờ muốn có một pháp lý như vậy nữa.
III. Pháp lý của GHPGVNTN từ năm 1964 đến nay :
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời năm 1964. Sau năm 1975, hoàn cảnh đất nước thay đổi, nhưng GHPGVNTN cũng như nhiều Giáo Hội các Tôn giáo khác vẫn tiếp tục hoạt động.
Những sinh hoạt sau đây của GHPGVNTN sau năm 1975 là những minh chứng :
- Ngày 02.11.1975, xảy ra vụ 12 vị Tăng Ni ở Thiền Viện Dược Sư tại Cần Thơ tự thiêu chống đối đàn áp của cộng sản. Ông Mai Chí Thọ, lúc đó là Giám Đốc Sở Công An Sài Gòn, đến chùa Ấn Quang yêu cầu Viện Hóa Đạo GHPGVNTN cử người xuống Cần Thơ để cùng với nhà cầm quyền điều tra. Viện Hóa Đạo đã cử Hòa Thượng Thích Quảng Độ, lúc đó là Tổng Thư ký VHD, thay mặt GH, dẫn phái đoàn xuống Cần Thơ điều tra xác nhận việc này. (xem thêm trong sách “Nhận Định về Những Sai Lầm Tai Hại của Đảng Cộng Sản Việt Nam đối với Dân Tộc và Phật giáo” của HT Thích Quảng Độ, NXB Quê Mẹ, Paris 1995).
- Năm 1977, Thủ tướng Phạm văn Đồng đã ký lệnh thư “Không trở ngại” để GHPGVNTN được tổ chức Đại Hội Kỳ VII tại Sài gòn.
- Năm 1980, nhà cầm quyền chấp thuận việc GHPGVNTN mở Đại Giới Đàn Thiện Hòa tại chùa Ấn Quang Sài gòn. V.v…
Tuy vậy, bên trong, Cộng sản vẫn theo đuổi việc thực hiện châm ngôn của Lê Nin : “Đảng phải thông qua tôn giáo để tập hợp và khống chế quần chúng”, nên nhà cầm quyền đã tìm mọi cách để cai quản, điều khiển các Tổ chức tôn giáo.
Đối với Phật giáo, nhà cầm quyền Cộng sản có những hoạt động sau đây :
- Năm 1976, thành lập tổ chức “Phật Giáo Yêu Nước” do những vị sư theo cộng sản lãnh đạo, cộng với những vị sư xu thời. Tổ chức này rất nhỏ, ít nhân sự.
- Năm 1980, thành lập Ban Vận Động Thống Nhất Phật Giáo. Trong đó có các thành viên của GHPGVNTN như : HT Thích Trí Thủ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo làm trưởng ban, và các HT Thích Trí Tịnh, Thích Minh Châu…
- Năm 1981, thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, công cụ của đảng Cộng sản Hà Nội. (xin xem thêm Tài liệu “Thống Nhất Phật Giáo” của ông Đỗ Trung Hiếu)
Các tôn giáo khác, nhà cầm quyền cộng sản cũng có những hoạt động tương tự, nhưng mỗi tôn giáo có hoàn cảnh, hệ thống tổ chức khác nhau nên kết quả cũng khác nhau.
Việc Cộng sản thành lập những tổ chức làm công cụ cho họ để tuyên truyền là đương nhiên. Nhưng lắc léo ở chỗ, họ dùng một số người của mình, của Giáo Hội mình, GHPGVNTN, thi hành những việc theo ý muốn của họ, đó mới là vấn đề.
Năm 1981, Sau khi thành lập xong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN), thuộc MTTQ, nhà cầm quyền cộng sản tuyên truyền rằng GHPGVNTN không còn nữa, vì đã sáp nhập vào GHPGVN của MTTQ rồi.
Lý do nào Cộng sản nói như vậy ?
Cộng sản lấy cớ việc Hòa thượng Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo nhận lãnh chức vụ Trưởng Ban vận động Thống Nhất Phật Giáo,.tuy Ngài tuyên bố rằng, Ngài nhận lãnh chức vụ Trưởng Ban vận động là với tư cách cá nhân, vì không được sự đồng ý của Giáo Hội. Ngoài HT Trí Thủ, GHPGVNTN còn có HT Thích Minh Châu, Thích Trí Tịnh ... làm Phó Ban hoặc thành viên trong Ban vận động này. Đặc biệt nhất là có một phái đoàn Đại diện cho GHPGVNTN tham dự Đại Hội thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ Hà Nội, phái đoàn này do HT Thích Thiện Siêu, người không có chức vụ gì trong Viện Hóa Đạo, làm trưởng đoàn, và danh sách đề cử phái đoàn GHPGVNTN có đóng dấu Viện Hóa Đạo.
Sự thật việc đó như thế nào ?
Xin trích một đoạn trong sách “ Nhận Định về Những Sai Lầm của Đảng Cộng Sản Việt Nam Đối với Dân tộc và Phật Giáo ” của Hòa thượng Thích Quảng Độ liên quan vấn đề này :
“…Đến khoảng tháng 9 năm 1981, cố H.T. Trí Thủ, với danh nghĩa Trưởng ban vận động thống nhất Phật giáo, đề nghị Viện Hóa Đạo cử Đại diện Giáo hội đi dự Đại hội thống nhất Phật giáo sẽ họp tại Hà Nội vào cuối năm đó. Tôi đề nghị, nhà nước đã không cho triệu tập Đại hội bất thường, thì bây giờ phải triệu tập Hội đồng Viện Hóa Đạo gồm mười một quận Giáo hội Đô thành để thông báo cho họ biết về việc này. Cố Hòa thượng Trí Thủ đồng ý.
Hôm sau tôi gửi văn thư mời các vị trong Ban Đại diện Giáo hội của mười một quận về chùa Ấn Quang họp. Hình như họ đã đoán trước được là cuộc họp này rất quan trọng nên họ về dự rất đông, không những chỉ có các vị Đại diện chính thức của mười một quận, mà còn có cả tăng ni về dự thính, ngồi chật giảng đường, đứng ngoài sân và trên các hành lang trong chùa. Cố H.T. Trí Thủ chủ tọa cuộc họp (xin nhắc lại, với tư cách Trưởng ban vận động thống nhất Phật giáo thì ngài là khách, nên lần trước ngài đã về “thăm xã giao” nhà Ngài. Nhưng hôm nay với tư cách Viện trưởng Viện Hóa Đạo nên Ngài chủ tọa cuộc họp). Với tư cách Tổng thư kí Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, tôi đứng lên tuyên bố rõ lý do triệu tập cuộc họp. Trước hết, tôi đọc lại các văn thư mà Viện Hóa đạo đã gửi ra phủ Thủ tướng tại Hà Nội nói rõ quá trình thành lập Giáo hội và các cơ cấu tổ chức cùng các hoạt động của Giáo hội tại miền Nam Việt Nam trước ngày đất nước thống nhất, đồng thời, gửi kèm bản Hiến chương và nội qui của Giáo hội để tường trình với nhà nước. Kế đó, tôi nói với các vị Đại diện Giáo hội trong cuộc họp như sau : “Nay H.T. Viện trưởng Viện Hóa Đạo đứng ra làm Trưởng ban vận động thống nhất Phật giáo, không biết ai đã thành lập ban này, thành lập ở đâu và ai đã bầu Hòa thượng làm Trưởng ban, Viện Hóa Đạo hoàn toàn không được biết điều đó, và cho đến nay, Giáo hội cũng chưa chính thức được mời dự bất cứ cuộc họp nào bàn về thống nhất Phật giáo. Bởi vậy, Giáo hội chưa biết thống nhất trên cơ sở nào, theo hình thức nào và sau khi thống nhất, tư cách pháp lý của GHPGVNTN sẽ ra sao. Đây là vấn đề tồn vong của Giáo hội, mà theo Hiến chương Giáo hội, phải do Đại hội quyết định. Cách đây mấy hôm, tôi đã được sở Công an mời ra bảo tôi phải đồng ý thống nhất, tôi đã nói với ông Quang Minh (người tiếp tôi) là Ban chỉ đạo Viện Hóa Đạo không đủ thẩm quyền quyết định việc quan trọng này, mà phải do Đại hội Giáo hội. Và tôi đã yêu cầu ông Quang Minh cho chúng tôi triệu tập Đại hội bất thường, mỗi tỉnh cần một vị Chánh đại diện hay Thư kí cũng được, nhưng ông Quang Minh đã không đồng ý, viện lẽ không còn đủ thì giờ ! Bây giờ đây H.T. Viện trưởng đề nghị Viện Hóa Đạo cử Đại biểu Giáo hội đi dự Đại hội thống nhất Phật giáo sẽ họp ngoài Hà Nội, tôi nhận thấy Đại hội bất thường thì nhà nước không cho, bởi thế hôm nay Viện Hóa Đạo mời quí vị về họp để hỏi ý kiến và tùy quí vị quyết định”. Trước khi dứt lời để trao quyền điều khiển cuộc họp cho Hòa thượng chủ tọa, tôi có bày tỏ một vài ý kiến như sau :
“Kính bạch Hòa thượng Viện trưởng Viện Hóa Đạo chủ tọa cuộc họp, kính thưa toàn thể quí vị, chắc quí vị cũng như tôi đều thấy rõ hiện nay con thuyền GHPGVNTN đang lênh đênh giữa biển khơi và gặp sóng to gió lớn, chưa biết sẽ chìm lúc nào. Vậy, nếu những ai trong quí vị có mặt ở đây hôm nay cảm thấy nguy nan sợ hãi mà muốn bước sang thuyền khác để thoát thân, thì xin quí vị ấy cứ việc tự do, không ai ngăn cản cả. Nhưng tôi chỉ xin quí vị ấy một điều là : trước khi bước sang thuyền khác qúi vị cứ để mặc cho con thuyền Giáo hội lênh đênh trôi dạt trong sóng gió với những người còn ở lại trên đó, họ sẽ cố sức lèo lái, nếu may mắn vượt qua cơn nguy nan mà đến được bờ bình an thì họ sống, còn nếu chẳng may con thuyền chìm thì họ cũng sẽ sẵn sàng chết theo nó, chứ quí vị ấy đừng đang tâm nhận chìm con thuyền của mình mà có lần đã từng đưa quí vị đến bờ danh vọng, lợi lộc, trước khi bước sang thuyền khác. Tôi chỉ xin quí vị có thế thôi. Tôi dứt lời và cảm ơn quí vị”.
“Khi tôi nói xong thì cả trong hội trường và ngoài sân, ngoài các hành lang nổi lên những tràng pháo tay vang dội, rồi tôi thấy T.T. Trí Tịnh đứng dậy đi ra trước tiên, kế đó là T.T. Minh Châu và sau cùng là Hòa thượng Viện trưởng chủ tọa ! Thế là cuộc họp tự nhiên cũng tan. Sau đó tôi nghe có tiếng vọng lại : “Hôm nay thầy Quảng Độ mời chúng tôi về đây để thóa mạ chúng tôi”. Còn lại Thượng tọa Huyền Quang và tôi, chúng tôi nhìn nhau một lúc rồi cũng giải tán !”
Đó là cuộc họp cuối cùng của Viện Hóa Đạo bàn về việc có nên cử đại diện đi dự Đại Hội thành lập GHPGVN tại chùa Quán Sứ Hà Nội hay không, và cuộc họp đã có kết quả bất thành. Viện Hóa Đạo không còn cuộc họp nào khác bàn về vấn đề này nữa..
Hòa Thượng Quảng Độ viết tiếp :
“Ba hôm sau, Văn phòng Viện Hóa Đạo nhận được bản “Thông báo” của Ban vận động thống nhất Phật giáo đề ngày 17-9-1981, do T.T. Minh Châu kí tên, dài lắm, tôi chỉ còn nhớ một đoạn ngắn, vì có lẽ nó là đoạn quan trọng nhất trong bản Thông báo. Đoạn ấy như sau :
“...Thượng tọa Thích Quảng Độ, Tổng thư kí Viện Hóa Đạo, đã triệt hạ uy tín của toàn Ban vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam, phá hoại công cuộc thống nhất Phật giáo, ngang nhiên thách thức với chính phủ và Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam là những người đang khuyến khích và hỗ trợ sự nghiệp thống nhất Phật giáo cả nước !”.
“Nhân đây tôi cũng xin thanh minh rằng tôi không chủ trương “phá hoại thống nhất Phật giáo” mà tôi chỉ muốn thống nhất trong tinh thần hòa hợp, đồng thuận theo đúng luật Phật “Hòa hợp phủ ? - Hòa hợp !” (chư tăng có hòa hợp không ? - Hòa hợp !) ; nghĩa là việc thống nhất Phật giáo là việc của chư tăng hai miền Nam Bắc, phải do chư tăng hai miền quyết định một cách hòa hợp và đồng thuận, chứ tôi không muốn nhà nước cộng sản can thiệp vào rồi bắt chúng tôi phải thống nhất theo ý muốn của nhà nước để sau dễ bề lợi dụng Giáo hội cho những mục đích chính trị và hợp thức hóa cho chủ trương tiêu diệt Phật giáo của đảng và nhà nước cộng sản”.
“Ðến cuối năm 1981, Ðại hội thống nhất Phật giáo chính thức được mở ra tại Hà Nội. Tôi được biết, T.T. Thích Thiện Siêu cầm đầu một phái đoàn mười người nói là đại diện cho Giáo-hội Phật giáo Việt-nam Thống nhất, có văn thư đề cử đóng khuôn dấu Viện Hóa Ðạo đường hoàng, tôi rất ngạc nhiên. Bởi vì T.T. Thiện Siêu có chức vụ gì trong Viện Hóa Ðạo đâu, mà Viện Hóa Ðạo cử T.T. Thiện Siêu làm đại biểu của Viện đi dự họp, còn khuôn dấu Viện Hóa Ðạo do tôi cất giữ, khi đến văn phòng thì tôi mang đến, hết giờ làm việc thì tôi mang về, vậy khuôn dấu ở đâu ra ? Lúc đầu tôi không tin, bởi lẽ tôi biết T.T. Thiện Siêu là bậc học thức, có đức hạnh, tôi rất kính trọng Thượng tọa và tuyệt đại đa số tăng ni miền Nam cũng thế, không tin Thượng tọa lại có thể làm một việc như vậy, nhưng sau tôi mới biết rõ đó là sự thật !”
Một bằng chứng khác, chứng tỏ GHPGVNTN không hề gia nhập vào GHPGVN, là 2 bức thư của HT Thích Đôn Hậu, Chánh Thư ký Viện Tăng Thống GHPGVNTN viết cho HT Thích Trí Thủ, Trưởng ban vận động thống nhất Phật giáo Việt nam và HT Thích Đức Nhuận, Pháp chủ GHPGVN :
THƯ GỬI HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ THỦ,Trưởng ban vận động thống nhất Phật Giáo Việt nam
Phật lịch 2525,Linh Mụ, ngày 24 tháng 11 năm1981.
Kính gởi :Hòa Thượng THÍCH TRÍ THỦTrưởng ban vận động thống nhất Phật Giáo Việt nam.Chủ tịch Đoàn Chủ tịchĐại hội Đại biểu Thống nhất Phật Giáo Việt Nam.(tổ chức tại Hà Nội từ ngày 4 đến 7. 11. 1981).
Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Thưa Hòa thượng,
Như Hòa thượng đã biết, từ mùa xuân năm 1980, khi Ban vận động thống nhất Phật Giáo Việt Nam ra đời, tuy quí vị có ghi tên tôi vào Ban vận động, với danh nghĩa Cố vấn, nhưng tôi đã không có sự cộng tác gì với Ban vận động cả, kể cả cuộc Đại hội thống nhất Phật Giáo Việt Nam vừa qua tôi đã vắng mặt. Thế nhưng, qua báo chí và các văn kiện Đại hội phổ biến, lại thấy có tên tôi trong Ban Thường trực Hội đồng chứng minh với chức vụ Phó Pháp chủ kiêm Giám Luật.
Tôi xin chân thành cảm ơn Hòa thượng và Đại hội đã dành cho tôi vinh dự đó. Tuy nhiên vì lý do sức khỏe nên tôi không thể đảm nhận thêm chức vụ này được nữa, trong khi tôi vẫn còn một trách nhiệm lớn đối với Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất trong cương vị Chánh Thư ký kiêm Xử lý Viện Tăng Thống.
Do đó, nay tôi viết thư này kính tin Hòa thượng rõ, và nhờ Hòa thượng hoan hỷ chuyển đạt tinh thần bức thư này đến quý vị trong Đoàn Chủ tịch cuộc Đại hội vừa qua.
Kính chúc Hòa thượng pháp thể khinh an, chúng sanh di độ. Và mong Hòa thượng nhận nơi đây lòng chân thành của chúng tôi.
Nay thư,Tỳ kheo THÍCH ĐÔN HẬU(ấn ký)
THƯ GỬI HÒA THƯỢNG THÍCH ĐỨC NHUẬN,Pháp chủ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam
Phật lịch 2525,Bệnh viện Thống Nhất, ngày 08.02.1982
Kính gởi :Hòa Thượng THÍCH ĐỨC NHUẬNPháp chủ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch Hòa Thượng,
Vào những ngày cuối cùng của năm Tân Dậu, vì bệnh tình bức bách, nên ngày 21. 01.1982, tôi đành phải rời Huế, vào thành phố Hồ Chí Minh để chữa bệnh, giữa lúc mọi người đang hoan lạc đón xuân sang, và cho đến hiện nay tôi vẫn đang còn được điều trị tại bệnh viện Thống nhất, thành phố Hồ Chí Minh.
Trong thời gian ấy, ngày 07- 02-1982, tôi lại nhận được lá thư của Hòa thượng gởi cho tôi với danh nghĩa Phó Pháp chủ kiêm Giám Luật Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Nội dung bức thư ấy, Hòa thượng báo tin cho tôi biết là Hội nghị Đại biểu thống nhất Phật Giáo Việt Nam đã thành tựu viên mãn, cũng như Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định công nhận Bản Hiến chương, danh sách Ban Lãnh đạo và cho phép Giáo hội Phật Giáo Việt Nam hoạt động. Đồng thời Hòa thượng đã có lời khuyên tôi cố gắng cộng tác với Giáo hội trong chức vụ nói trên.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn lòng thạnh tình của Hòa thượng đối với tôi, đồng thời, tôi rất lấy làm vinh dự và tri ân quý Hòa thượng đã dành cho tôi một chức vụ quan trọng như thế. Nhưng, thưa Hòa thượng, như Hòa thượng đã biết, vào đầu mùa xuân năm 1980, cũng chính là lúc tôi đang nằm điều trị ở bệnh viện Thống nhất này, thì hay tin Ban vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam được thành lập, trong đó tôi được có tên với danh nghĩa Cố vấn. Thế nhưng bệnh duyên chướng ngại, nên tôi đã không tham gia được một Phật sự nào đáng kể, ngay cả cuộc Hội nghị Đại biểu vừa qua tôi cũng phải vắng mặt. Cho nên, tôi xét thấy mình tuổi đã già, sức đã yếu lại bệnh hoạn liên miên và mỗi ngày càng thêm trầm trọng. Do đó, tôi viết thư này để kính báo với Hòa thượng để Hòa thượng rõ là tôi không thể đảm nhận được chức vụ quan trọng “Phó Pháp chủ kiêm Giám Luật” Giáo hội Phật Giáo Việt Nam mà hội nghị đã đề cử.
Tuy vậy, riêng cá nhân, tôi vẫn luôn luôn tâm nguyện sẽ tiếp tục đem tất cả sức tàn ra phụng sự chánh pháp trong khả năng còn lại của mình và trong điều kiện sức khỏe cho phép.
Rất mong Hòa thượng thông cảm và nhận nơi đây lòng chân thành của tôi. Kính chúc Hòa thượng phước trí nhị nghiêm, chúng sanh dị độ.
Kính thư,Tỳ kheo ĐÔN HẬU(ấn ký)
Do sự léo lận, dối trá, lập phái đoàn giả, đóng dấu giả, mạo xưng GHPGVNTN tham dự Đại Hội tại chùa Quán sứ Hà Nội, nhà cầm quyền Cộng sản đã phi pháp tuyên bố rằng, GHPGVNTN đã tự nguyện sáp nhập vào GHPGVN của Mặt Trận Tổ Quốc từ năm 1981, nay không còn nữa.
Sau khi thành lập tổ chức Trung Ương GHPGVN ở Hà Nội xong, nhà cầm quyền cộng sản thành lập các tổ chức GH tại địa phương. Bắt đầu là Thành phố Sài gòn. Lúc này, nhị vị Hòa Thượng Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Tổng Thư ký Viện Hóa Đạo Thích Quảng Độ vẫn tiếp tục làm việc tại Văn Phòng Viện Hóa Đạo chùa Ấn Quang, hào quang của hai Hòa Thượng vẫn phủ khắp, chư Tăng vẫn hướng về GHPGVNTN, không ai chịu nhận bất cứ chức vụ gì trong Giáo Hội nhà nước. Để đối phó trở ngại này, có người hiến kế, “đập rắn phải đập đầu”, Cộng sản thực hiện ngay bằng cách bắt hai Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ đem đi lưu đày biệt xứ. Nhờ đó việc thành lập Giáo Hội nhà nước thành phố Sài gòn cũng hoàn tất nhanh chóng, vì chư Tăng, nghe tin hai Hòa Thượng đã bị bắt, ai cũng khiếp sợ, răm rắp tuân theo. Đến đây, GHPGVNTN như rắn mất đầu, các Phật sự đều bị đình đốn, vì một số thành viên lãnh đạo đi tỵ nạn ở nước ngoài, số còn lại hoặc bị tù hoặc bị giết. Mãi đến năm 2003, Đại Hội Bất Thường tại Tu Viện Nguyên Thiều tỉnh Bình Định, Hội Đồng Lưỡng Viện mới được kiện toàn đầy đủ, tiếp đó là Ban Đại diện GHPGVNTN các Tỉnh, Thành, Quận, Huyện tái phục hoạt trở lại.
Đó là những bằng chứng GHPGVNTN không hề gia nhập GHPGVN của nhà nước, chỉ có những cá nhân thuộc GHPGVNTN gia nhập GHPGVN mà thôi. Nhà cầm quyền cộng sản cũng không có một văn thư nào chính thức giải thể GHPGVNTN. Vì vậy GHPGVNTN vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục hoạt động, mặc dù Phật sự có đôi lúc bị đình trệ, nhưng GHPGVNTN vẫn sống, và tiếp tục sống. Nhà cầm quyền Cộng sản, đến nay, vẫn chưa giải quyết những khiếu nại của GHPGVNTN về những vi phạm như, phải làm minh bạch cái chết của Hòa Thượng Thích Thiện Minh, Cố vấn Viện Hóa Đạo, phải hoàn trả ngôi Việt Nam Quốc Tự và các tài sản khác cho GHPGVNTN mà Nhà cầm quyền Cộng sản đã cưỡng chiếm bất hợp pháp sau năm 1975. Trong khi chưa giải quyết những khiếu nại, những nợ nần của GHPGVNTN, Nhà cầm quyền Cộng sản lại tìm cách dụ dỗ GHPGVNTN đăng ký, mặc nhiên, trở thành một Giáo Hội tân lập, đoạn tuyệt hẳn với quá khứ, để khỏi phải giải quyết những món nợ đã gây ra cho GHPGVNTN hay sao ?. GHPGVNTN không phải là Giáo Hội tân lập. GHPGVNTN không cần “đăng ký” với ai cả.
Có nhiều người, cả trong lẫn ngoài nước, ngay cả một số thành viên của GHPGVNTN, không rõ vấn đề phức tạp, lắc léo này, không biết rằng pháp lý của GHPGVNTN từ trước đến nay hoàn toàn hợp pháp. Hơn nữa, ở miền Nam Việt nam này chưa có tôn giáo nào xét lại pháp lý cả.
Khi thành lập xong GHPGVN, thành viên của Mặt Trân Tổ Quốc, một công cụ của đảng Cộng sản, nhà cầm quyền bắt đầu tổ chức những cuộc đấu tố nhị vị Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ trên khắp cả nước.
Chiến dịch này, với sự tuyên truyền rộng rãi trên các báo đài, trong nội bộ Tăng Ni bằng sự kích động, xúi giục, móm ý cho rằng hai Ngài là “thiểu số” chống lại đa số (luận điệu đưa ra là chỉ có 2 Hòa thượng thuộc GHPGVNTN chống lại Giáo Hội nhà nước, trong khi có cả chục ngàn Tăng, Ni gia nhập Giáo hội Nhà nước), hai Ngài “phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”, “phá hòa hợp Tăng”, “phản động”, v.v… Nhưng nhà cầm quyền cộng sản không thu hoạch được gì, vì do chư Tăng không còn lối thoát, bị ép buộc, đe dọa, khủng bố nên buộc lòng phải gia nhập Giáo Hội nhà nước, nhưng lương tâm mỗi người không ai mở miệng nói ra những lời lẽ trái đạo, khinh sư diệt tổ, chống lại gốc rễ, cội nguồn. Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Cố vấn Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo nhắc nhở rằng : “Dù làm việc gì, ở đâu, không ai trong chúng ta quên rằng mình là thành viên của GHPGVNTN”.
Một đóa sen thơm xin cúng dường cho mỗi chư Tăng, và những ai tuy sống trong bùn lầy nước đọng, nhưng lòng vẫn tinh khiết, không nhiễm tanh hôi. Chỉ tiếc rằng, những vị lãnh đạo Giáo Hội, nhất là những vị lãnh đạo cao cấp, làm đầu tàu, làm thuyền trưởng, trong lúc sóng to, gió lớn, không vững tay chèo, vội bỏ thuyền cũ, bước sang thuyền mới, bỏ lại bao khách lữ lênh đênh trong sóng gió, bão bùng. Mà cái Giáo Hội mới ấy, thực chất là gì ? Hãy nghe Ông Đỗ Trung Hiếu, kiến trúc sư làm ra cái Giáo Hội ấy ăn năn, bộc bạch : “Cuộc Thống nhất Phật Giáo lần này, bên ngoài do các Hòa thượng gánh vác, nhưng bên trong bàn tay Đảng Cộng sản Việt nam xuyên suốt quá trình thống nhất để nắm và biến tướng Phật giáo Việt Nam trở thành một tổ chức bù nhìn của Đảng”. Vậy, con thuyền mới, cái Giáo Hội mới đó, có đẹp đẽ gì đâu, chỉ là một cái hội chẳng những không có tính cách pháp nhân của một tôn giáo lớn như Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, lại cũng chẳng được hưởng quy chế Hiệp hội như thời thực dân, mà nó chỉ còn là một tổ chức có tính cách nằm trong hiệp hội, đó là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Như lời than của Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Cố vấn Viện Hóa Đạo :
“Đau xót biết bao”, Hòa thượng Đức Nhuận viết như đang khóc, “khi Phật giáo Việt Nam từ con lạch nhỏ đă vùng thoát ra được đại dương, thì nay quí Ḥòa thượng lại tự bước vào một vũng ao tù”. (tài liệu của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, Paris)
Sau năm 2003, GHPGVNTN vừa mới phục hoạt, còn yếu ớt, Cộng sản lại tiếp tục dùng phương sách cũ, cài người vào Giáo Hội, dụ dỗ, bắt chẹt, dùng người của GHPGVNTN chống phá GHPGVNTN, nhất là tuyên truyền GHPGVNTN sống không có pháp lý, đưa ra chiêu bài đăng ký, hoặc hòa hợp hòa giải, làm văn hóa, từ thiện… tạo ra tình trạng ly khai, chia rẽ trong Giáo Hội. Nhưng rất may, Đức Cố Tăng Thống, Đại Lão Hòa thượng Thích Huyền Quang đã sáng suốt kịp thời ban hành Giáo Chỉ số 09, tái thiết cơ cấu, chấn chỉnh nhân sự cho Giáo Hội vững chắc, Phật sự không bị trở ngại. Nếu không, GHPGVNTN, một lần nữa, lại bị thêm một cơn biến động làm tan nát, đình trệ như năm 1981.
Ngày 29.3.2009, Đại Lão Hòa thượng Thích Quảng Độ Xử Lý Viện Tăng Thống, kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo thay mặt Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN cất Lời Kêu Gọi Biểu tình tại gia, Bất tuân dân sự để bảo vệ Tổ quốc Việt nam khỏi họa xâm lăng của Trung cộng, nên Trung cộng và tay sai rất cay cú, một lần nữa, tìm cách bôi nhọ pháp lý của GHPGVNTN, vu cho rằng, GHPGVNTN là mạo xưng.
Thật ra, Nhà cầm quyền cộng sản mới là kẻ trí trá đóng dấu giảViện Hóa Đạo, mạo lập phái đoàn GHPGVNTN giả để tham gia Đại Hội tại chùa Quán Sứ Hà nội năm 1981, để nói rằng GHPGVNTN đã “gia nhập vào Giáo hội của nhà nước”, GHPGVNTN không còn nữa. Cũng như thế, Trung cộng không thể căn cứ vào Công Hàm bán nước, bất hợp pháp, vô giá trị của Thủ tướng Bắc Việt, Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958, dâng hai quần đảo Hoàng sa, Trường sa cho Trung cộng để khi nhà cầm quyền Việt Nam bổ nhiệm Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa, ngày 29.4.2009, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Trung quốc Khương Du, cả quyết : “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Tây Sa cùng vùng biển xung quanh. Trung Quốc và Việt Nam không tồn tại tranh luận đối với quần đảo Tây Sa. Cách làm kể trên của phía Việt Nam là trái phép và vô hiệu”. Cộng sản với bản chất vô thần, độc tài, luôn gian dối, làm những điều ngang ngược, vô lý !
GHPGVNTN là Giáo Hội Dân lập, kế thừa 2000 năm của chư Tổ, có quyền sống, vẫn sống, vẫn tiếp tục cùng Dân tộc vận động cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và toàn vẹn lãnh thổ cho quê hương Việt Nam đến ngày thành công.
Thích Viên Định
----------------------------------------
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤTVIỆN HOÁ ĐẠOTỔNG VỤ THANH NIÊNGIA ĐÌNH PHẬT TỬ VIỆT NAMVP : Chùa Giác Minh - K356/42 Đường Hoàng Diệu - Thành Phố Đà Nẵng--------------------------------------------------------------------------------------------------
GIÁC THƯ SỐ 4VỤ TRƯỞNG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VỤGIA ĐÌNH PHẬT TỬ VIỆT NAM
KÍNH GỞIANH CHỊ EM HUYNH TRƯỞNG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ CÁC CẤPQUỐC NỘI VÀ HẢI NGOẠI
Trích yếu : Thư khuyên nhủ Trần Thanh, và Ý nghĩa “Lời Kêu gọi Tháng 5 Bất tuân Dân sự - Biểu tình Tại gia” của Đại lão Hòa thượng Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN(Tư liệu Gia Đình Phật tử)
Kính thưa toàn thể Anh Chị Em Huynh Trưởng
Thay mặt Hội Đồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Đại Lão Hoà Thượng Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hoá Đạo đã ban hành “Lời Kêu Gọi Một Tháng Bất Tuân Dân Sự và Biểu Tình Tại Gia” để phản đối Đảng Cọng Sản Việt Nam “Đổi Vàng Dân Tộc Lấy Nhôm Nước Ngoài” qua việc rước nhà thầu Trung Quốc vào khai thác Bô Xít tại Tây Nguyên.
Bất Tuân Dân Sự và Biểu Tình Tại Gia là hành động phản kháng đã được áp dụng nhiều nơi trên Thế Giới và ngay cả Việt Nam trong công cuộc giải trừ Quốc Nạn và Pháp Nạn trong các giai đoạn lịch sử vừa qua.
Tuy nhiên từ ngữ “Bất Tuân Dân Sự” và “Biểu Tình Tại Gia” mới được Hoà Thượng Xử Lý Thường Vụ Viên Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hoá Đạo dùng lần đầu tiên, vì thế những người chưa tìm hiểu cảm thấy ngỡ ngàng trước một phương thức đấu tranh quá mới mẻ. Lợi dụng sự ngỡ ngàng đó, các thế lực chống đối Lời Kêu Gọi đã cố ý xuyên tạc nội dung cũng như ý nghĩa của nó, mặc dù đã có nhiều sự giải thích được phổ biến qua rất nhiều bài vở đăng tải trên báo chí hải ngoại hoặc phát biểu qua các Đài phát thanh quốc tế. Tuy nhiên những sự giải thích nầy đều dựa trên căn bản Triết học cũng như Luật học, do đó những ai không có kiến thức về Triết học và Luật học đều chỉ hiểu vấn đề một cách tổng quát.
Vừa qua tôi có đọc 3 bài viết của tác giả Trần Thanh bài xích Lời Kêu Gọi của Hoà Thượng Viện Trưởng được đăng tải trên Diễn Đàn TinParis. Trần Thanh đã dùng một loại ngôn ngữ tục tỉu, thô ác và hạ cấp để phân tích và kết luận một cách lệch lạc về nội dung cũng như ý nghĩa của Lời Kêu Gọi, đồng thời bịa đặt nhiều chi tiết để bôi nhọ nhân cách Hoà Thượng nhằm đánh lạc hướng Đồng Bào và Phật Tử Việt Nam.
Với trách nhiệm của một thành viên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, tôi đã viết thư gởi Trần Thanh với tất cả sự chân thành và quí mến vì nhiệt huyết của Trần Thanh cũng như các bạn trẻ Hải ngoại đấu tranh cho Dân Chủ và Nhân Quyền Việt Nam trong thời gian qua.“ Bất Tuân Dân Sự và Biểu Tình Tại Gia ” mà tôi phân tích cho Trần Thanh hôm nay đứng trên quan điểm phổ thông mà ai cũng có thể hiểu rõ giá trị thực tiễn của nó. Vì vậy bức thư nầy tôi đưa vào nội dung Giác Thư Số 4 để Anh Chị Em Huynh Trưởng nắm vũng các điều cơ bản trong công cuộc kế tục vận động Bất Tuân Dân Sự Và Biểu Tình Tại Gia cho đến ngày đất nước thật sự Tự Do và Dân Chủ.
LÊ CÔNG CẦU154 Phan Bội Châu, HuếĐT : 0914172287
_____
THƯ KHUYÊN NHỦ TRẦN THANH
Thưa Trần Thanh,
Sống trong vòng cương toả của chế độ Cọng Sản Việt Nam, chúng ta mới thấy trân quí những tiếng nói đòi hỏi tự do, nhân quyền cho đất nước và dân tộc được cất lên từ quốc nội. Những tiếng nói ấy là hồi chuông ngân vang trong đêm tối hãi hùng, xoá tan nỗi sợ hãi và gieo rắc niềm tin cho một bình minh sẽ đến. Mà có phải 85 triệu dân ai cũng nói được cả đâu. Chỉ có những người tâm huyết mới dám đem mạng sống của mình để đổi lấy một tiếng nói cho Dân Tộc cho Tổ Quốc. Trong những tiếng nói hiếm hoi ấy, Hoà Thượng Viện Trưởng của chúng tôi như là một người tiên phong mà cả thế giới thán phục và ca ngợi. Tôi nghĩ Trần Thanh cũng không thể phủ nhận đó là một sự thật.
Vì nó quí hiếm như vậy cho nên chúng tôi đã thiết tha trông chờ thêm những tiếng nói cất lên từ Hải ngoại. Những tiếng nói ấy không chỉ là sự đồng tình của những người ruột thịt tha hương mà nó là những liều thuốc tăng lực giúp cho chúng tôi thêm niềm tin để chịu đựng những nghiệt ngã của thế quyền giáng xuống. Trong những tiếng nói ấy, có tiếng nói của Trần Thanh mà tôi đã một thời vô cùng trân trọng.
Nhưng cách đây mấy hôm tôi đọc 3 bài viết của Trần Thanh do TinParis đăng tải và một vài diễn đàn đã phổ biến :
1/.Một vài nhận định về Lời Kêu Gọi “ Bất Tuân Dân Sự “ của Hoà Thượng Thích Quảng Độ.
2/.Phong trào kháng chiến “ Chống Giặc Tàu Tại Gia ”
3/.“ Biểu Tình Tại Gia ” bẩy rập nguy hiểm của Việt gian Cọng sản.
Những từ ngữ tục tỉu, hỗn láo, thô ác, bịa đặt là nền tảng của cả 3 bài viết nêu trên. Chưa bàn đến chuyện đúng sai, mà chỉ đọc những từ ngữ ấy thôi người ta thấy ngay Trần Thanh đã phản bội lại những đặc tính cao quí của Dân Tộc Việt Nam, và phản bội ngay cả chính mình.
Trong những ngày qua đã có nhiều người lên tiếng để chỉ cho Trần Thanh thấy được cái sai trái của mình như Kim Dung, Nguyễn Phúc Liên, Nguyễn Khắc Anh Tâm, Nam Dao, Bảo Quốc Kiếm… Riêng tôi, lá thư nầy như là một tâm tình nghiêm khắc tôi gởi đến Trần Thanh vì 5 điều sau đây :
1/. TRẦN THANH ĐÃ PHẢN BỘI LẠI BẢN CHẤT CỦA DÂN TỘC VIỆT :
Bản chất ấy chỉ gói gọn trong một câu ngắn ngủi : Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn mà chúng ta đã nghe, đã thấy và đã học khi mới bước chân vào ngưỡng cửa nhà Trường. Con người mà lễ nghĩa không có thì văn chương của họ chỉ là một thứ vũ khí bịp bợm cho nên ca dao Việt Nam có câu rằng :
Văn chương chữ nghĩa một bồ.Đạo đức một nắm là đồ lưu manh
Trần Thanh hãy nhìn lại các bài viết của mình có một chút lễ nghĩa nào không. Văn dĩ tải đạo, mà cái đạo không có thì cái văn hoàn toàn lếu láo, như thế Trần Thanh đã phản bội lại bản chất của con người Việt Nam như tôi nhận xét.
2/.TRẦN THANH ĐÃ PHẢN BỘI LẠI LUÂN LÝ CỦA DÂN TỘC VIỆT :
Luân lý ấy cũng chỉ là một câu rất đơn giản, đó là Kính Trên Nhường Dưới, nhưng cái câu mộc mạc ấy làm nền cho trật tự xã hội và đem lại êm ấm gia đình.
Bài viết của Trần Thanh bất kính người trên, hiếp đáp người dưới, ai cũng chê ngu chê thối đó chính là đầu mối của rối loạn xã hội, của tan nát gia đình. Bản thân của Trần Thanh không biết giữ kỷ cương của gia đình, của xã hội thì Thanh phê phán ai đây.
Thanh có biết tại sao lực lượng đánh giặc chủ yếu là thanh niên mà Nhà Trần không triệu tập Hội Nghị Thanh Niên để bàn mưu chống giặc, mà Nhà Trần lại triệu tập Hội Nghị Diên Hồng gồm những ông già da mồi tóc bạc, có người tai điếc mắt mờ, có người lưng còng răng rụng để tìm phương thức cứu nước hay không ?
Lớp già mà quyết chiến, quyết chiến, chiến đến cùng thì lớp trẻ tính sao đây. Với bầu nhiệt huyết có sẵn của lớp trẻ được nung nấu thêm tinh thần bất khuất của tuổi già, cho nên tinh thần chiến đấu của thanh niên sẽ được nhân đôi. Nhà Trần biết khai thác sức mạnh luân lý của Dân Tộc, ngược lại Trần Thanh phỉ báng nền luân lý ấy, thì thử hỏi có phải Trần Thanh là kẻ phản bội hay không ?
3/.TRẦN THANH PHẢN BỘI LẠI NỀN VĂN HOÁ DÂN TỘC :
Văn hoá Dân Tộc cũng chỉ là một câu thật mộc mạc : Lựa Lời Mà Nói Cho Vừa Lòng Nhau. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau không phải là lời nói nịnh hót, mà lời nói có giá trị cảm hoá mọi người, mọi người đều vừa lòng, vừa náo nức nghe theo. Lời nói ấy là căn bản cho một xã hội thanh bình, đóng góp cho nền văn hiến của Quốc Gia.
Trần Thanh thân mến, sau năm 1975 tôi còn nấn ná dạy thêm mấy tháng rồi mới bị sa thải. Trong mấy tháng thực hiện thiên chức giáo viên Xã hội Chủ nghĩa, một hôm chúng tôi được Sở Giáo Dục phân phối sách giáo khoa cả 3 cấp, 1, 2 và 3 đưa từ Miền Bắc vào để cho giáo viên tham khảo. Trong một quyển sách giáo khoa cấp 2 có bài Bác Hồ đến thăm một đơn vị Thương binh, Bác hỏi : “Các chú ăn ỉa thế nào ?” bọn giáo viên chúng tôi sửng sờ. Một thời gian sau, khi đọc các sách giáo khoa đã chỉnh lý, tôi thấy các bài phi văn hoá đó biến mất, chứng tỏ nó đã bị xã hội đào thải, dù do chính cửa miệng của “Hồ Chủ Tịch Vĩ Đại” nói ra. Giờ đây Trần Thanh sử dụng những từ ngữ thô lậu hơn Bác Hồ cả ngàn lần chứng tỏ Trần Thanh đã quá coi thường xã hội, có phải Trần Thanh đã phản bội lại tiền trình văn hoá Dân Tộc hay không ? Vì văn hoá Dân Tộc không chấp nhận những ngôn từ thô lỗ nầy.
4/. TRẦN THANH PHẢN BỘI LÝ TƯỞNG ĐẤU TRANH CỦA DÂN TỘC :
Dân Tộc Việt Nam đang khao khát một nền tự do và dân chủ thật sự. Một tiếng nói cất lên đòi hỏi cho tự do dân chủ là một đoá hoa tươi thắm trong tiến trình đấu tranh của dân tộc. Thế nhưng Trần Thanh đã dùng mọi thủ đoạn phi văn hoá để vùi dập không nương tay. Những lời lẽ bẩn thỉu, thô tục, nhớp nhúa đã được Trần Thanh đem bôi lên các lời kêu gọi tâm huyết. Đối với các bậc trưởng thượng như Hoà Thượng Quảng Độ, các bậc đàn anh như BS Nguyễn đan Quế, Nguyễn Phúc Liên mà Trần Thanh trù dập như thế thì thử hỏi lớp trẻ ai còn dám lên tiếng ?
Trần Thanh còn nhớ trong phiên toà xử Linh mục Nguyễn Văn Lý, công an đã ngang nhiên bịt miệng linh mục ngay giữa toà. Trần Thanh đang sử dụng những lời lẽ tục tỉu, nhơ nhớp, bịa đặt để bôi nhọ, xỉ vả, vu khống các nhà đấu tranh kiên cường, các nhà dân chủ tâm huyết đó là một cách bịt miệng tinh vi thâm độc hòng chận đứng những tiếng nói yêu nước cất lên từ quê nhà và hải ngoại. Hai thủ đoạn tuy khác nhau nhưng cùng một mục đích là dập tắt lý tưởng đấu tranh của Dân Tộc, đó là một hành động phản bội, xin Trần Thanh hãy suy nghĩ.
5/. TRẦN THANH PHẢN BỘI CHÍNH MÌNH :
Trần Thanh hò hét : “ phải tiêu diệt ngay đảng Cọng Sản để cứu nguy dân tộc ”. Nhưng từ khi Lời Kêu Gọi được ban hành, một lần nữa nhà nước Cọng Sản đã nỗ lực dùng các tờ báo An Ninh Thế Giới, Công An Nhân Dân … đưa các bài mạ lỵ vu khống, xuyên tạc nhằm hạ bệ Hoà Thượng Thích Quảng Độ hòng tiêu diệt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, thì hầu như cùng lúc Trần Thanh cho phổ biến các bài xuyên tạc đả kích bôi nhọ Hoà Thượng Thích Quảng Độ trên diễn đàn TinParis.
Sự phối họp đồng bộ và chặt chẽ nầy đã tố cáo Trần Thanh phản bội chính mình.
Đòi tiêu diệt Cọng Sản, nhưng lại tiếp tay với Cọng Sản một cách đắc lực và kịp thời chứng tỏ Trần Thanh nói một đường làm một nẻo. Những người nói một đường làm một nẻo là họ tự đánh mất nhân cách của mình hay nói cách khác là họ tự phản bội bản thân của mình.
Đọc những bài viết của Trần Thanh ai cũng giận cả. Vì giận cho nên mỗi người đã bày tỏ thái độ của mình bằng những cách khác nhau. Riêng tôi vốn trước đây đã cảm mến Trần Thanh cho nên tôi có một cái nhìn khác biệt : tôi thấy Trần Thanh đã quá hăng tiết khi truy kích quân thù. Hăng đến nỗi quên cảnh giác cho nên Trần Thanh đã đánh rơi cả vũ khí lẫn lương thực, vậy thì khi tiếp cận được với kẻ thù thì Thanh còn gì đâu để chiến đấu để bảo vệ mình, bảo vệ non sông. Bản chất, luân lý, văn hoá, lý tưởng của dân tộc đó chính là vũ khí. Niềm tin của đồng bào, của xã hội đó là lương thực nuôi ta kiên trì tranh đấu. Đánh mất bản chất, luân lý, văn hoá, lý tưởng thì đâu còn tư cách để đấu tranh, đánh mất niềm tin của dân tộc thì sự đấu tranh trở thành vô nghĩa.
Từ những suy nghĩ đó tôi muốn tạo cơ hội cho Trần Thanh nhìn lại chính mình, hãy nhặt lại những gì mình đã đánh mất để làm hành trang vào đời thêm một lần nữa. Mà muốn nhìn lại chính mình và nhặt lại những gì mình đánh mất thì trước hết Trần Thanh hãy nghe tôi giải thích ý nghĩa Lời Kêu Gọi của Hoà Thượng Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hoá Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất để so sánh với nhận định của chính mình :
Ý NGHĨA LỜI KÊU GỌI
BẤT TUÂN DÂN SỰ LÀ GÌ ?
Dân Sự là sự sống của người dân. Sự sống được thể hiện bằng hơi thở, ăn uống, ngủ, nghĩ , đi đứng, làm việc… Thiếu những điều kiện nầy con người sẽ chết. Đây là quyền tự nhiên của con người, đã gọi là quyền tự nhiên thì không ai ban cho và con người cũng không cần xin xỏ ai cả. Các quyền tự nhiên ấy được các thể chế dân chủ qui định là các quyền căn bản của con người được pháp luật bảo vệ. Người nào, chế độ nào, đảng phái nào, chính quyền nào chà đạp lên các quyền căn bản ấy là vi phạm nhân quyền. Ngược lại, đây là các quyền tự nhiên của người dân nên người dân có quyền từ bỏ mà không vi phạm pháp luật. Việc từ bỏ quyền sống của chính mình gọi là bất tuân dân sự. Thông thường nguyên nhân dẫn đến việc người dân từ bỏ quyền sống của mình đều mang theo một tinh thần phản kháng bất bạo động. Tôi ví dụ : con cái giận cha mẹ vì cha mẹ làm điếu sai trái, nhưng vì chữ hiếu người con không thể nặng lời nên đành nhịn ăn để phản đối. Đó là một hành vi bất tuân dân sự. Đứa học trò bỏ học để phản đối thầy giáo bất công với mình, người công nhân bỏ việc làm để phản đối chủ có hành vi bóc lột, đó là bất tuân dân sự. Đi xa hơn một chút nữa là khi người tu hành từ bỏ thân mạng, tự thiêu để phản đối chính quyền độc tài, khi người Phật Tử từ bỏ thân xác để tuyệt thực đòi hỏi tự do tôn giáo, khi người tiểu thương từ bỏ nguồn sống để đình công bãi thị, khi người sinh viên từ bỏ tương lai tươi sáng để bãi khoá đấu tranh. Tất cả đó là hành vi bất tuân dân sự chứ có mới mẻ gì đâu.
Vậy bất tuân dân sự là hành vi hợp pháp. Nó hoàn toàn trái ngược với bất tuân hình sự, bởi vì hình sự là hình phạt giành cho những người vi phạm luật pháp như tham nhũng, hối lộ, giết người, trộm cướp, hiếp dâm…. Những hình phạt ấy được toà án phán quyết và người dân phải chấp hành.
Như vậy Bất Tuân Dân Sự được pháp luật bảo hộ, ngược lại Bất Tuân Hình Sự bị pháp luật chế tài. Đó là 2 phạm trù trái ngược, Xin Trần Thanh cũng như những ai có ý đồ hắc ám đừng trộn lẫn hai phạm trù nầy lại để đánh lận con đen.
BIỂU TÌNH TẠI GIA LÀ GÌ ?
Biểu tình là sức mạnh vô địch trong đấu tranh ôn hoà. Không biểu tình ngoài đường được thì biểu tình tại nhà. Đã gọi là biểu tình tức là phản kháng. không lẽ Trần Thanh quá ngu dốt khi đồng hoá việc tụ tập trong nhà để ăn nhậu, để hút xách, để đánh bạc cũng gọi là biểu tình tại gia. Những hành vi ăn nhậu, hút xách đánh bạc là hành vi đồi bại, hưởng thụ, thoả mãn, cho nên không thể gọi là biểu tình vì nó đâu có mang tính chất phản kháng, mà ngược lại nó mang tính chất vi phạm pháp luật thì sao lại gọi là biểu tình tại gia được.
Tại Hải ngoại, Lời Kêu Gọi được ban hành ngày 29.3.2009, thì lập tức được sự hưởng ứng nồng nhiệt của các tổ chức, các hội đoàn trong cộng đồng người Việt tại các châu lục trên thế giới. Ngày 11.4 cuộc Hội Luận Paris mở đầu cho công cuộc vận động yêu sách nhà nước Cọng Sản phải đáp ứng Lời Kêu Gọi. Tiếp theo là cuộc hội luận tại chùa Điều Ngự ở California, Hoa Kỳ, ngày 19.4 với sự tham dự đông đảo của Đồng Bào và Phật Tử cùng các Đảng Phái, các Tổ Chức của Cộng Đồng Người Việt tại Hoa Kỳ. Và các cuộc hội luận tiếp diễn tại Canada, tại Hoà Lan, tại Đức cho thấy hầu như toàn bộ Cộng Đồng người Việt Hải Ngoại đã hưởng ứng Lời Kêu Gọi với tất cả nhiệt huyết và tâm thành. Đó chính là những cuộc biểu tình tại gia đã làm sơn hà rung chuyển, dù nó xảy ra bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Tại Quốc Nội thì sao ? Công nhân vẫn đến xưởng, học sinh, sinh viên vẫn đến trường, tiểu thương vẫn đến chợ và nông dân vẫn ra đồng có nghĩa là Lời Kêu Gọi chẳng được đáp ứng hay chăng ?
Xin hãy đọc tuyên cáo của những nhà trí thức Việt Nam, các nhà văn, nhà báo, nhà khoa học, nhà quân sự để thấy sự liên hệ nhân quả của Lời Kêu Gọi được trực tiếp hay gián tiếp thể hiện trên quan điểm của họ. Phải chăng đây là một hình thức Biểu Tình Tại Gia ?
Xin hãy nhìn về kinh thành Huế trong mùa Phật đản, ngoài những lễ đài do nhà nước và Giáo Hội nhà nước dựng lên ở Từ Đàm, ở An Hoà, An Cựu, những dãy cờ đỏ sao vàng núp bóng cờ Phật Giáo từ Nam Giao về Bên Ngự và hai bờ sông Hương, thì hình ảnh cờ đèn, lễ đài tư gia tưng bừng như mọi năm, năm nay vắng bóng vì đâu. Phải chăng là vì Lời Kêu Gọi đã được phổ biến sâu rộng khắp cả kinh thành. Thái độ không treo cờ không thắp đèn phải chăng là một cuộc Bất Tuân Dân Sự , Biểu Tình Tại Gia của người Phật tử Cố Đô mà ai quan tâm cũng sẽ dễ dàng nhận thấy.
Xin hãy nhìn 3 đêm cầu nguyện tại Tổ đình Quốc Ân, Lời Kêu Gọi được tuyên đọc hào hùng trong đêm tối, 850 ngọn nến tượng trưng cho 85 triệu đồng bào lung linh trên bản đồ Việt Nam yêu dấu, 3 vị Hoà Thượng trên 80 tuổi cùng ngồi với hằng trăm tăng tín đồ chấp tay chân thành cầu nguyện trong đêm tối mịt mùng đã cảm động đất trời.
Đó chính là Biểu tình Tại gia, là Bất tuân Dân sự .
Thưa Trần Thanh, sở dĩ tôi kể lể dài dòng như thế để cho Trần Thanh hiểu rằng Lời Kêu Gọi Biểu Tình Tại Gia - Bất Tuân Dân Sự của Hoà Thượng Viện Trưởng là cái gốc, còn hình thức biểu hiện là trăm hoa đua nở trên cái gốc vững chãi kia, chứ không phải biểu tình tại gia là chỉ trùm mền nằm ngủ như Trần Thanh nhận định một cách thô ác và dung tục.
Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA LỜI KÊU GỌI :
Thưa Trần Thanh.
Qua bản nhận định của Trần Thanh tôi thấy có 2 vấn đề cần phải sòng phẳng :
1/ Trần Thanh viết :
“Chúng ta cần tỉnh táo để xác quyết các mệnh đề như sau :
“…Kẻ thù chính của chúng ta là bọn Việt Gian Cọng Sản và bằng mọi giá chúng ta phải tiêu diệt bọn chúng.
“…Chúng ta phải đánh vào cái gốc chớ không phải đánh vào cái ngọn.
“…Việc trước tiên ta phải làm là tiêu diệt bọn việt gian cọng sản.
“…Đó là, phải trị bệnh tận gốc, phải tiêu diệt bọn việt gian cọng sản”.
Thanh viết quá hùng hồn, nhưng thưa Trần Thanh, Trần Thanh tiêu diệt cọng sản bằng cách nào, đánh vào cái gốc bằng cách nào, trị bệnh tận gốc bằng cách nào ? tôi không hề nghe Thanh nhắc đến. Như vậy thì đứa con nít cũng biết Trần Thanh đang đánh võ mồm có phải không ?
2/.Ngược lại Hoà Thượng của chúng tôi đã đưa ra phương sách rất rõ ràng :
a/. Một tháng Bất tuân Dân sự - Biểu tình Tại gia để phản đối Đảng Cọng Sản Việt Nam rước Trung Cọng vào tàn phá quê hương qua việc khai thác bôxit Tây Nguyên. Trong hơn 30 năm qua chúng ta đấu tranh bằng ngôn ngữ chứ chưa bằng hành động. Biểu Tình Tại Gia và Bất Tuân Dân Sự là hành động khởi đầu để hướng dẫn đồng bào qua một giai đoạn đấu tranh mới mà ai cũng có thể tham gia.
b/.Việc chống khai thác bôxit Tây Nguyên là tiền đề để tiến tới 3 mục tiêu quan trọng :
MỤC TIÊU THỨ NHẤT :
“Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam cấp tốc nạp hồ sơ xác nhận thềm lục địa của mình theo Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển cho Uỷ Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) trước ngày qui định của LHQ, là ngày 13 tháng 5 năm 2009, để bảo vệ quyền lợi và lãnh hải tổ quốc”.
Trần Thanh nhận định : “Yêu sách một : rất ngu và rất thối.
“Nếu bọn việt gian cọng sản là một chính quyền thực sự vì dân vì nước thì bọn chúng thừa biết chúng phải làm gì để bảo vệ giang sơn đất nước. Không việc gì chúng ta phải làm thầy dùi khuyên bọn chúng phải làm thế nầy, thế nọ để bảo vệ lãnh hải”.
Thưa Trần Thanh ! Sao Trần Thanh lại dùng chữ “ NẾU”. Không lẽ Thanh không thấy chính quyền Cọng Sản Việt Nam hiện nay không hề vì dân vì nước, họ chỉ vì đảng và vì khối đại đồng xã hội chủ nghĩa cho nên họ đã dâng đất, dâng biển, và dâng cả vùng Tây Nguyên cho Trung Cọng làm căn cứ địa khống chế toàn vùng Đông Nam Á dưới chiêu bài khai thác bôxit đó sao ? Cho nên chúng ta phải lên tiếng phản đối những việc làm hại nước hại dân để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ dân tộc. Sao Thanh lại nói “ không việc gì chúng ta phải đi làm thầy dùi, khuyên bọn chúng phải làm thế nầy thế nọ để bảo vệ lãnh hải.
Nếu Trần Thanh là người yêu nước chắcTrần Thanh không muốn lãnh hải Việt nam biến thành một con lạch nhỏ chạy dài từ Bắc chí Nam chứ. Trần Thanh không muốn hằng triệu đồng bào ngư dân Việt Nam thất nghiệp đói nghèo vì mất ngư trường đánh bắt hải sản chứ. Trần Thanh không muốn tài nguyên đáy biển của Việt Nam biến thành món mồi béo bở của bọn thực dân Phương Bắc chứ.
Trần Thanh nói tiếp : “Chúng mày là những thằng nguỵ thua trận, mất nước, không việc gì phải dạy khôn chúng ông”.
Thưa Trần Thanh, những kẻ thua trận, những kẻ mất nước thì phải cam tâm làm nô lệ suốt đời hay sao, vậy thì ý chí phục quốc, truyền thống bất khuất của dân tộc Thanh để ở đâu. Tôi thật sự lấy làm xấu hổ và nhục nhã khi trong hàng ngũ thanh niên Việt Nam có những kẻ bại hoại như Trần Thanh. Thanh có học lịch sử không ? Có thấy bà Trưng Bà Triệu đã dạy khôn cho nhà Hán như thế nào, đã thấy nhà Trần đã dạy khôn cho bọn giặc Nguyên Mông như thế nào, đã thấy Lê Lợi, Nguyễn Trãi dạy khôn cho bọn giặc Minh như thế nào, và trong cận đại Thanh đã thấy dân tộc Việt Nam dạy khôn cho bọn thực dân như thế nào rồi chứ.
Thanh viết tiếp “bọn việt gian cọng sản phải chịu trách nhiệm trước toàn dân và lịch sử về việc nầy. Bọn chúng sẽ bị toàn dân xét xử”.
Thật là oai hùng ! ! ! Thưa Trần Thanh. Không lẽ Thanh không thấy Đảng Cọng Sản đang vô trách nhiệm với Dân Tộc với Tổ Quốc sao. Nếu họ có trách nhiêm thì họ phải giữ từng gang sông từng tấc đất của Tổ Tiên để lại chứ. Nếu họ có trách nhiệm thì họ phải giữ gìn tài nguyên của đất nước, phải giữ môi sinh và văn hoá dân tộc chứ. Vì vô trách nhiệm nên họ đã âm thầm đem dâng, đem bán một phần lãnh thổ và lãnh hải của cha ông. Vì vô trách nhiệm nên họ đã rước kẻ thù truyền kiếp vào dày xéo Tây nguyên. Thanh không thấy sao ?
Trần Thanh nói : “Bọn chúng sẽ bị toàn dân xét xử” . Đúng như thế, Thanh thấy bọn Pol Pot đang bị dân tộc Kampuchia xét xử. Nhưng trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay liệu dân tộc có còn tồn tại đến ngày phán xét hay không, hay là Trần Thanh dài cổ đợi cho đến ngày phán xét thì Trần Thanh cùng dân tộc Việt Nam đã bị biến thành nô lệ, tổ quốc Việt Nam đã bị biến thành thuốc địa của bọn bành trướng Bắc Kinh rồi.
Trần Thanh à ! đừng trông chờ một thái độ trách nhiệm của Đảng Cọng Sản, đừng trông chờ ngày phán xét của toàn dân, mà hãy hành động ngay để chận đứng thái độ vô trách nhiệm của đảng Cọng Sản. Chính vì thế mà Hoà Thượng của chúng tôi đã ban hành Lời kêu gọi Biểu Tình Tại Gia, Bất Tuân Dân Sự. Lời kêu gọi ấy không đứng trên sự tính toán thành công hay thất bại, không đứng trên sự cân nhắc khả thi hay không khả thi. Nếu không thành công thì thành nhân như Ông Nguyễn Thái Học đã nói trước khi lên đoạn đầu đài. Và Nguyễn Thái Học đã không thành công, cuộc khởi nghĩa Yên bái đã bị thực dân Pháp dìm trong biển máu, 13 nghĩa sĩ hy sinh vì Tổ quốc. Nhưng Nguyễn Thái Học đã thành nhân. Tấm gương của Ông đã thôi thúc toàn dân kháng chiến và giành thắng lợi cuối cùng cho Tổ Quốc Việt Nam.
Trần Thanh à ! Cuộc tranh đấu của toàn dân cho tự do, dân chủ và nhân quyền là một cuộc đấu tranh trường kỳ chứ không phải dừng lại ngang đây, Lời Kêu gọi của Hoà Thượng chúng tôi nếu không thành công trong nhất thời thì nó sẽ thành nhân trong tiến trình đấu tranh của dân tộc. Tôi xin trích một đoạn trong bài “Đoá Hồng Cho Một Nhà Sư” của Nguyễn Duy Thành :
“…Vì vậy, cần phải công tâm và thấu hiểu hết ý nghĩa sâu xa khi nhận xét về Lời kêu gọi đấu tranh của đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ. Trong nhãn quan bình thường khi nhận xét về kế hoạch đấu tranh của Ngài đưa ra, tất cả cho thấy tiến trình đấu tranh nằm dưới dạng của sự : TỊNH . Một sự tịnh tâm tịnh lòng của một vị chân tu. Nhưng không ! nếu có sự đồng tâm đồng sức thì kết quả của sự Tịnh kia sẽ biến thành một sự : ĐỘNG. Một cơn chấn động có thể phá sập một chế độ độc tài. Điều căn bản và cũng là một câu hỏi : Người Việt Nam Có Chịu Yêu Nước Không. Hay Chấp Nhận Lệ Thuộc Bắc Phương Một Lần Nữa. ”
Như vậy là đã quá rõ ràng, Lời Kêu Gọi là một hồi chuông thức tỉnh lòng yêu nước của người Việt Nam, ai yêu nước thì hưởng ứng, thì đứng lên. Ai không yêu nước thì cứ cam tâm làm nô lệ. Mọi sự cân nhắc thất bại hay thành công trong lúc nầy là thái độ của những người ích kỷ và cơ hội mà thôi.
Vì vậy “rất ngu” và “rất thối” xin được gắn vào nhận định của Trần Thanh.
MỤC TIÊU THỨ HAI :
“Yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam công bố toàn bộ nội dung hai bản Hiệp ước Biên Giới trên đất liền và trên biển ký kết giữa Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa năm 1999 và 2000, kèm theo các bản đồ là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước, để toàn dân được biết sự toàn vẹn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng”.
Trần Thanh nhận định : “Yêu sách hai : Cũng rất thối và rất ngu
“Đây là yêu sách ruồi bu. Có khác gì chúng ta yêu cầu một con đĩ tuột quần ra để chúng ta kiểm tra sự toàn vẹn của cái…..màng trinh của nó”.
Thanh à ! đã nói thì đừng ngượng miệng, đừng ngập ngừng. Sự so sánh tục tĩu, bệnh hoạn của Trần Thanh làm cho nhiều người phẫn nộ, nhưng tôi thì không. Tôi thấy khi Trần Thanh đem hai Hiệp Ước Biên Giới mà Cọng Sản đã lén lút ký với Trung Cọng so sánh với cái màng trinh của con đĩ thì thật là chính xác. Bởi vì cái màng trinh con đĩ mà không kiểm tra kỹ thì những kẻ chơi bời như Trần Thanh chắc chắn sẽ nhiễm HIV, sẽ kéo dài sự sống trong khổ nhục và đau đớn. Hiệp Ước Biên Giới cũng thế, nếu toàn dân không kiểm tra thì nó sẽ đưa cả dân tộc vào thân phận nô lệ khổ nhục và đau đớn chẳng khác gì căn bệnh thế kỷ HIV.
Vì vậy để tránh cho dân tộc khỏi rơi vào thân phận khổ nhục và đau đớn, Hoà Thượng chúng tôi đã yêu cầu nhà cầm quyền phải công bố nội dung cho toàn dân biết để toàn dân có ý thức phản kháng nhằm bảo vệ mình, bảo vệ Tổ Quốc. Nếu yêu nước thì chắc Trần Thanh cũng không muốn Nam Quan, Bản Giốc, Tục Lãm…cứ âm thầm rơi vào tay Trung cọng chứ ?
Trần Thanh nhận định : “Toàn dân có biết được sự toàn vẹn hay không toàn vẹn của lãnh thổ thì giải quyết được điều gì ? Thân phận nô lệ vẫn làm nô lệ”
Thưa Trần Thanh ! “ Quốc gia hưng vong , thất phu hữu trách” há Trần Thanh quên rồi sao. Người dân là chủ của đất nước, cán bộ là đầy tớ của nhân dân. Không lẽ đầy tớ cứ ăn cắp tài sản của chủ đem bán mà chủ cứ im lặng, cứ cúi đầu sao. Phải biết tài sản của mình bị mất gồm những gì, tuỳ theo nhiều ít mà định tội thằng ăn cắp chứ. Quốc gia đại sự cũng thế, toàn dân đều phải biết ai bán nước, ai cướp nước để phân biệt bạn thù. Toàn dân phải biết quốc gia lâm nguy như thế nào mới nung nấu được tinh thần chiến đấu của toàn dân chứ. Sức mạnh toàn dân sẽ giải quyết tất cả. Câu hỏi của Trần Thanh không những biểu lộ cái thấp hèn nô lệ mà còn biểu lộ sự khinh miệt sức mạnh toàn dân thì thử hỏi ai sẽ chiến đấu với Trần Thanh nếu Trần Thanh thật lòng yêu nước.
Một lần nữa “rất ngu” và “rất thối” xin được gắn vào nhận định của Trần Thanh.
MỤC TIÊU THỨ BA :
“Yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam khẩn cấp triệu tập một đại hội đại biểu toàn dân bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, kỷ thuật cơ khí luyện kim, các chiến lược gia quân sự, cùng đại biểu các thành phần dân tộc bất phân chính kiến, tôn giáo trong và ngoài nước để cùng nhau thống nhất ý kiến chận đứng việc khai thác bôxit Tây Nguyên”.
Trần Thanh nhận định : “Yêu sách ba : Ngu xuẩn và tình nguyện đi làm chó săn, tay sai cho bọn việt gian cọng sản”
Thưa Trần Thanh ! Từ nhận định nêu trên , Thanh cho rằng :
- Hằng triệu người thất nghiệp đang nằm bẹp tại nhà , phải chăng họ bất tuân dân sự, biểu tình tại gia.
- Hàng chục ngàn gia đình những thằng tư bản đỏ đang cờ bạc, hút xách, trác táng quanh năm suốt tháng tại gia, phải chăng bọn chúng là những kẻ bất tuân dân sự, biểu tình tại gia.
- Hàng chục ngàn những thằng nghiện thuốc phiện, dân làng bẹp suốt ngày đêm nằm bên cạnh bàn đèn, phải chăng là bất tuân dân sự, biểu tình tại gia.
Thưa Trần Thanh ! Xin Trần Thanh hãy nghe tôi nhắc lại một lần nữa :
Biểu tình tại gia là một hành động phản kháng, nói lên sự bất bình của con người trước một áp bức. Đây là một hành động tự vệ mà pháp luật không thể can thiệp.
Ngược lại bọn ăn nhậu, cờ bạc, trác táng, hút xách là một hành động thoả mãn, truỵ lạc nói lên sự sa đoạ của con người trước những cám dỗ thấp hèn. Đây là một tệ nạn xã hội mà pháp luật sẵn sàng trừng trị.
Đơn giản như thế mà Thanh không phân biệt được thì làm sao mà Thanh dám cầm bút nhận định thời cuộc và phê phán lung tung.
Đến đây tôi bỏ qua những chi tiết vụn vặt để đi vào cốt lõi của mục tiêu thứ 3 :
Trần Thanh viết : “Cái kiểu đề nghị Một đại Hội Đại Biểu Toàn Dân Trong Và Ngoài Nước của Ông Quảng Độ nó bay mùi hoà hợp hoà giải …. Đây là một hình thức gián tiếp công nhận cái chính quyền ăn cướp của bọn giặc là hợp pháp…Kêu gọi hoà hợp hoà giải , cũng chỉ là một trò hề điếm đàng chính trị được lập lại dưới một hình thức khác (bô xit) : tất cả mọi tổ chức trong và ngoài nước phải tập hợp lại , đứng dưới lá cờ máu của việt gian cọng sản để chống ngoại xâm”.
Đây là vấn đề quan trọng nhất trong suốt quá trình lập luận của Ông vậy xin Ông hãy lắng nghe :
1/. Chúng ta phải khách quan để thấy rằng cho dù đảng cọng sản Việt Nam cai trị đất nước dưới hình thức nào (dù là ăn cướp) thì đó cũng là một chính quyền hợp pháp đối với quốc tế, không thể phủ nhận. Nó có chân trong Liên Hiệp Quốc, nó được nhiều quốc gia thiết lập bang giao, cho nên tự nó đã có tư cách pháp nhân. Dù có căm ghét nó cũng không nên nói bừa. Vậy thì một đảng phái, một tôn giáo, một đoàn thể, một cá nhân có đủ tư cách để triệu tập một đại hội toàn dân hay không ? Hoàn toàn không. Chỉ có chính quyền mới có đủ tư cách pháp nhân để triệu tập quốc dân đại hội.
Do đó, muốn có đại hội toàn dân thì phải tạo áp lực để chính quyền phải đứng ra triệu tập. Đó là một đòi hỏi chính đáng. Hành động nầy không thể đồng hoá với việc hoà hợp hoà giải với cọng sản Việt Nam như Trần Thanh nhận định.
2/. Nếu chính quyền đã chấp nhận triệu tập quốc dân đại hội có nghĩa là chính quyền đã khuất phục trước Lời Kêu Gọi của Hoà Thượng Viện Trưởng, đây là sự thụ động của chính quyền chứ không phải là sự chủ động của chính quyền. Do đó quốc dân đại hội không có nghĩa là đứng dưới lá cờ máu của cọng sản như Trần Thanh nhận định mà là toàn dân đứng dưới ngọn cờ chính nghĩa của dân tộc.
3/.Đã gọi là Đại Hội Toàn Dân thì Cọng Sản cũng chỉ là một thành phần của Đại Hội. Đại Hội sẽ tiếp thu ý kiến của Toàn Dân để đúc kết thành một Quyết Định Chung của Dân Tộc mà Cọng Sản phải chấp nhận, phải thi hành chứ không phải Đại Hội lắng nghe sách lược của Cọng Sản và thi hành sách lược của Cọng Sản như lập luận nhu nhược của Trần Thanh. Nếu chấp nhận sách lược của Cọng Sản thì Đại Hội làm gì nữa. Đây là một Hội Nghị Diên Hồng của Thế Kỷ 21 biểu hiện sức mạnh Toàn Dân trước hiểm hoạ xâm lược của Trung Cọng. Nó trái ngược hoàn toàn với nhận định Trần Thanh cho nên một lần nữa các “ mỹ từ ” “rất ngu” và “rất thối” xin được trả về cho tác giả.
Thưa Trần Thanh.
Tôi đã già, có thể làm anh của Trần Thanh được chứ. Nếu được thì xin Thanh hãy xem đây là lời khuyên nhủ chân thành, tuy có nặng lời một chút. Nếu Thanh không đồng tình thì tôi xin sẵn sàng đón nhận những gì tục tỉu nhất, bẩn thỉu nhất mà Thanh sử dụng, tôi sẽ mỉm cười vì tôi biết đó là vũ khí của kẻ cùng đường.
Thân ái.LÊ CÔNG CẦU
___________________________
Kính Thưa Anh Chị Em Huynh Trưởng.
Hôm nay 20.5.2009, Lời Kêu Gọi Bất Tuân Dân Sự, Biểu Tình Tại Gia đến nay đã đi qua 2/3 chặng đường nguy khó, nhưng nó không phải kết thúc cuối tháng 5 nầy, mà nó sẽ tồn tại trong lòng người dân Việt cho đến ngày quang phục đất nước. Với Giác Thư nầy tôi xin thay mặt Anh Chị Em Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử, những người con của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bày tỏ lòng cám ơn chân thành đến tất cả những Tổ chức, Hội đoàn, Đảng phái, Tôn giáo, Cá nhân đã thể hiện tinh thần yêu nước qua sự hưởng ứng Lời Kêu Gọi của Hoà Thượng Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hoá Đạo ban hành ngày 29 tháng 3 năm 2009.
Trong nỗi vui buồn của người Phật tử trước hiện tình của Đạo Pháp và Dân Tộc, tôi xin được trích mấy câu thơ của Nguyễn Duy Thành gởi đến Anh Chị Em Huynh Trưởng để kỷ niệm một mùa Đản Sanh trong điêu linh và thống khổ của Dân Tộc Việt Nam :
Tháng 5 vùi đầu trong mùa thi
Khi ve kêu phượng nở
Tháng năm nhớ, thương Sài Gòn
Với bàng hoàng - trăn trở
Tháng 5 mùa hoa sen nở. Hoa vô ưu về.
Tháng 5 nầy đáng ghi cần nhớ :
“Nhớ đoá hoa hồng dâng tặng một nhà sư”
KÍNH CHÀO TINH TẤN
PL 2553 Giác Minh, Ngày 26 tháng 4 năm Kỷ Sửu
Ngày 20 tháng 5 năm 2009(Ngày kết thúc Bất Tuân Dân Sựvà Biểu Tình Tại Gia ở Miền Trung)VỤ TRƯỞNGGia Đình Phật tử VụGia Đình Phật tử Việt NamNguyên Chánh LÊ CÔNG CẦU

