Thứ Năm, 15 tháng 10, 2009
Thứ Năm, 1 tháng 10, 2009
TÔN GIÁO, MỘT NHU CẦU
TÔN GIÁO, MỘT NHU CẦU
KHÔNG THỂ THIẾU TRONG ĐỜI SỐNG
Thích Viên Lý
Tôn giáo là nền tảng căn bản của mọi đạo đức xã hội, thiếu tôn giáo, con người
sẽ biến thành vô cảm, xã hội sẽ loạn động và tệ nạn xã hội là một thảm kịch
không thể tránh khỏi.
Niềm tin tôn giáo có sức tác động mãnh liệt lên sự thăng hóa của xã hội nhân
loại. Chính tôn giáo làm tình người nở hoa, chính tôn giáo khiến đời sống trở
thành ý nghĩa đáng sống; tuy nhiên, nếu nhân danh tôn giáo để áp đặt đức tin của
mình lên người khác, thế giới sẽ rơi vào khủng hoảng, chiến tranh sẽ nổ ra và
con người sẽ biến thành nạn nhân của cái mà mình mệnh danh là thánh thiện. Chính
vì thế, các tôn giáo không chỉ tôn trọng lẫn nhau mà cần họp tác trong những
lãnh vực mà qua đó xã hội sẽ hưởng được những thiện ích không thể thiếu vắng
trong đời sống. Không một ai, dù có đức tin như thế nào, muốn thấy đức tin của
mình bị xúc phạm. Không một ai, sinh ra và lớn lên trong bất cứ truyền thống văn
hoá nào muốn sống dưới sự xung đột, tranh chấp. Khoan dung, hoà ái là đặc trưng
của cái thiện, là biểu tượng của văn minh, dân chủ và tự do.
Muốn xã hội loài người hưởng các quyền công dân bình đẳng thật sự, thế quyền
tuyệt đối không xen vào nội bộ tôn giáo, không dựa vào cách mạng bạo lực để
cưỡng bức tôn giáo, ngược lại bản thân các tôn giáo, bất luận đức tin của mình
như thế nào, cần tận lực phục vụ con người thay vì bắt con người phải phục vụ
cho tôn giáo của mình.
Tại Việt Nam, dưới thể chế độc tài toàn trị, các tôn giáo đã không thể đáp ứng
thỏa đáng nhu cầu tâm linh của quần chúng mà ngay tại hải ngoại, dù có tự do
nhưng vẫn bị Nghị quyết 36 của Cọng sản làm phân rã, lũng đoạn, đây là một thực
tế không thể phủ bác, chính thế, các tôn giáo cần có một tầm nhìn bao dung, tỉnh
giác. Với sức mạnh của sự đoàn kết, chắc chắn các tôn giáo sẽ là giải pháp thay
thế tốt nhất cho hiện trạng đen tối hôm nay trên quê hương Việt Nam thân yêu của
chúng ta.
Tôn giáo là sức mạnh của dân tộc, đàn áp tôn giáo là triệt hủy sức sống của
giống nòi. Ý thức rõ điều đó, trung thành với lý tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa đại
đồng, không biên giới, vô tổ quốc, vì quyền lợi phe nhóm, nhà cầm quyền Cọng sản
Việt Nam đã chẳng những hiến đất, dâng biển cho ngoại bang mà còn tìm đủ kế sách
để tiêu diệt các tôn giáo. Với Cọng sản, tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân,
là thế lực nguy hiểm nhất của chế độ, vì tôn giáo có khả năng quy tụ quần chúng
- một sức mạnh đè bẹp mọi sức mạnh mà tôn giáo đang thủ đắc, chính thế, càng
ngày nhà nước Cọng sản càng quyết tâm leo thang chính sách đàn áp tôn giáo của
họ. Nhân danh Chủ nghĩa Xã hội, họ ngang nhiên chiếm đoạt đất đai, tài sản của
các tôn giáo. Bắt giam các hàng Giáo phẩm, cấm đoán mọi sinh hoạt thuần túy tôn
giáo của các Tự viện, Giáo đường, Thánh thất. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất là nạn nhân trực tiếp và lâu dài của thế lực vô minh manh động này trên
suốt nhiều thập kỷ qua. Thế nhưng, việc làm phi pháp của họ đã là động lực thúc
đẩy những người có đức tin mạnh dạn đứng lên để chống lại cái ác, bảo vệ chân
lý, dù phải đương đầu với hiểm nguy, bất trắc. Đây là một phản ứng rất tự nhiên
của con người và đây cũng là nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ của các chế độ độc
tài toàn trị không luận là đông hay tây. Lịch sử đã minh chứng, dù mạnh và tàn
bạo đến đâu như Tần Thủy Hoàng hay Adolf Hitler đi nữa, cuối cùng, độc tài đã
phải nhường chỗ cho dân chủ.
Nói đến tuổi thọ của các Tôn giáo là nói đến thiên niên kỷ, ngược lại, chiều dài
lịch sử của các triều đại hay thể chế chính trị chỉ được tính bằng vài ba con
số. Yếu tố nào đã làm cho tôn giáo tồn tại lâu dài? Nhân tố ấy chính là lòng
người. Cái gì đáp ứng được khát vọng sâu thẳm nhất của con người, cái ấy sẽ tồn
tại miên viễn.
Tôn giáo có khả năng chăm sóc đời sống tâm linh của con người nên Tôn giáo chính
là chìa khóa mở ra một quang lộ đầy triển vọng cho thế giới nhân loại, cách
riêng cho dân tộc Việt Nam chúng ta.
Điều đáng lưu ý ở đây là, tôn giáo giữ một vai trò vô cùng quan yếu như thế,
nhưng, chúng ta không nhân danh Tôn giáo mà chính là nhân danh sự khổ đau của
con người, của muôn loại chúng sanh để hành động - hành động là cho và vì phúc
lạc lâu dài của tha nhân chứ không phải cho chính tôn giáo của mình. Cần ý thức
rằng, tôn giáo là sự vận hành của tình thương, một tình thương không biên giới,
là mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển tâm linh. Trong nhận ý minh mẫn như thế,
thay vì tiêu cực, chúng ta sẽ tích cực dấn thân. Nhân quả không là một biện
chứng mà chính là một luật tắc. Với luật tắc nhân quả, chắc chắn sự dấn thân
tích cực của chúng ta sẽ mang lại niềm vui đích thực cho tất cả sinh loại.
Trong hoàn cảnh vàng thau lẫn lộn hiện nay, chúng ta cần ý thức thường xuyên mối
hiểm họa của Cọng sản, quyết tâm không để chủ nghĩa Cọng sản hoặc những kẻ cuồng
tín nhân danh Xã hội Chủ nghĩa tiêu diệt khát vọng tự do, nhân quyền và dân chủ
của nhân dân. Sức mạnh mà chúng ta có thể có được đó là sự kết họp, với sức mạnh
tổng họp đó, chúng ta sẽ chận đứng mọi chính sách thù nghịch của Cọng sản và sẽ
mang lại tình thương bao la, một niềm vui bất tận cho thế giới nhân loại.
Thích Viên Lý
Thứ Năm, 24 tháng 9, 2009
Thượng tọa Thích Viên Định bình luận việc nhà cầm quyền Hà Nội đàn áp, trục xuất chư Tăng chùa Bát Nhã
Thượng tọa Thích Viên Định bình luận việc nhà cầm quyền Hà Nội đàn áp, trục xuất chư Tăng chùa Bát Nhã của Sư ông Thích Nhất Hạnh 2009-09-22 PTTPGQT
PARIS, ngày 22.9.2009 (PTTPGQT) - Chư Tăng Ni thuộc giáo phái Làng Mai của Sư Ông Nhất Hạnh ở tu viện Bát Nhã, tỉnh Lâm Đồng, bị đàn áp, trục xuất kéo dài nhiều tháng qua. Dư luận chung lấy làm lạ vì sao trước đây Sư Ông được nhà cầm quyền Cộng sản trọng vọng đón rước, cho phép tự do thuyết pháp từ Bắc chí Nam, mà nay lại đàn áp Tăng thân của Sư Ông ?
Quan hệ hữu hảo giữa Sư Ông và Nhà nước Cộng sản khởi đầu từ cuối thập niên 90, là năm Sư Ông Nhất Hạnh ngỏ ý được về Việt Nam thăm viếng và truyền đạo. Lộ trình chuyến đi hoằng pháp cùng nội dung những bài thuyết pháp từ tháng 3 đến tháng 4 năm 1999 qua ba thành phố Hà Nội, Huế, Saigon, đã được đệ trình Bộ Văn hóa cộng sản. Nhưng không hiểu vì cớ gì Hà Nội bãi bỏ chuyến đi vào phút chót. Mãi đến ngày 11.1.2005, Sư Ông Nhất Hạnh cùng 100 Tăng thân Làng Mai mới được Hà Nội đánh trống khua chiêng đón rước.
Phải chăng vào thời điểm 2005, Hà Nội bị Hoa Kỳ liệt vào danh sách các quốc gia đàn áp tôn giáo cần đặc biệt quan tâm (CPC, Countries of Particular Concern) mà hệ quả bị chế tài kinh tế và tài chính chiếu theo Đạo luật 1998 bảo vệ tự do tôn giáo của Quốc hội Hoa Kỳ. Chuyến đi này quảng cáo cho thế giới và Hoa Kỳ thấy rằng “không có đàn áp Phật giáo” tại Việt Nam. Nếu có đàn áp, thì sao một Sư Ông và 100 Tăng thân Làng Mai tự do đi lại, thuyết pháp khắp nước ? Công lao của Sư Ông Nhất Hạnh quả đã “cứu bồ” Hà Nội, khi một năm sau, 2006, Tổng thống Bush rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC.
Lập trường của Sư Ông Nhất Hạnh đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng như đối với nhà cầm quyền Hà Nội rất rõ, qua tiếng nói của Sư Cô Chân Không, người phụ tá đặc biệt, rồi Sư Ông Nhất Hạnh tuyên bố trước khi rời Pháp đi Việt Nam và khi tới Hà Nội :
Hãng thông tấn AFP đã làm cuộc phỏng vấn Sư Ông và Sư cô tại phi trường Charles De Gaulle ở Paris. Bản tin AFP phát hành chiều ngày 11.1.2005 có đoạn viết rằng : “Nhà sư (tức Sư Ông Thích Nhất Hạnh) không là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, là Giáo hội đang bị chính quyền cấm không cho hoạt động từ năm 1981, vì Giáo hội này từ khước sự kiểm soát và điều khiển của Đảng Cộng sản. Hơn một năm trước đây, Công an Việt Nam đã mở cuộc đàn áp sâu rộng Giáo hội này, hàng giáo phẩm bị bắt quản chế và hàng trăm ngôi chùa bị phong tỏa. Khi được hỏi vì sao một số phong trào tôn giáo bị cấm đoán tại Việt Nam, Sư cô Chân Không trả lời : “Vì một số các Giáo hội này tàng trữ những lá cờ của chế độ cũ (sic). Còn chúng tôi, thì chúng tôi chẳng có một tham vọng chính trị nào cả”.
Tại Hà Nội, theo báo Nhân Dân phát hành ngày 13.1.2005, Sư Ông Nhất Hạnh tuyên bố rằng : “Ông đã từng đấu tranh với những thái độ căng thẳng của chính quyền một số nước phương Tây về “vấn đề tôn giáo ở Việt Nam”. Ông kể, ông đã từng nói với một số quan chức Hoa Kỳ rằng : “Người Việt Nam muốn được giải phóng khỏi cái mà người Mỹ gọi là sự giải phóng cho người Việt Nam”.
Thế mà nay Hà Nội qua bàn tay của Ban tôn giáo chính phủ đánh thẳng vào pháo đài Làng Mai tại tu viện Bát Nhã ở tỉnh Lâm Đồng ! Ẩn khuất gì đây ?
Thượng tọa Thích Viên Định, Phó Viện trưởng kiêm Tổng Thư ký Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, vừa gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để phổ biến bài bình luận về các biến cố xẩy ra tại Tu viện Bát Nhã. Xin độc giả theo dõi toàn văn bài bình luận dưới đây :
Tin Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đòi trục xuất chư Tăng chùa Bát Nhã, Lâm Đồng sau Đại lễ Vesak 2008 làm cho mọi người, ai cũng hồi hộp, lo lắng, đau xót, cảm thương. Và đúng như vậy, sự thật đau buồn đã xảy ra, tất cả gần 400 Tăng, Ni bị Nhà cầm quyền ra lệnh trục xuất ra khỏi chùa Bát Nhã, Lâm Đồng, hạn chót là ngày 2.9.2009. Bước đầu cuộc đàn áp là điện, nước bị cúp, phòng xá bị phá, tạo áp lực nặng nề, làm cho mọi sinh hoạt của chư Tăng, Ni trở nên vô cùng khó khăn.
Chuyện Thiền sư Nhất Hạnh, năm 2005, về Việt Nam hợp tác với Nhà cầm quyền cộng sản, gây hậu quả như thế nào là một vấn đề khác, nhưng việc 400 chư Tăng, Ni trẻ, mới cạo tóc xuất gia, tâm hồn trong trắng, quyết chí tu hành lại bị Nhà cầm quyền dùng bạo lực đàn áp, trục xuất, không cho tu học thì không một người nào là không đau lòng, tức giận.
Dân tộc Việt Nam suốt 60 năm qua chịu đựng không biết bao nhiêu đau khổ vì nạn Cộng sản vô thần. Riêng về Phật Giáo, từ ngày 02. 11.1975 đã bị đàn áp quá sức chịu đựng, 12 Tăng, Ni Thiền Viện Dược Sư ở Cần Thơ đã phải tự thiêu để phản đối. Năm 1978, Hoà thượng Thích Thiện Minh bị tra tấn đến chết trong tù. Đại Lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, Hoà thượng Thích Quảng Độ và rất nhiều Tăng, Ni và Phật tử đã bị tù tội, quản thúc, lưu đày…tượng Phật bị đập phá khắp nơi, cơ sở Giáo Hội bi trưng thu nhiều vô kể. Là nạn nhân bị đàn áp nặng nề nhất, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất rất đau đớn, cảm thông trước sự kiện Nhà cầm quyền cộng sản đàn áp, trục xuất chư Tăng chùa Bát Nhã, Lâm Đồng, hiện nay và cho đây là một bằng chứng nữa của quốc nạn độc tài, vô thần.
Cùng lúc với chùa Bát Nhã ở Lâm Đồng, nhiều cơ sở của các tôn giáo khác cũng bị đàn áp làm xôn xao dư luận trong và ngoài nước. Vì những việc này, các thành viên trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cũng được dư luận chiếu cố nhiều. Thư hỏi cũng có, điện thoại phỏng vấn cũng có, đến gặp trực tiếp cũng có, tất cả đều có chung thắc mắc rằng tại sao Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không lên tiếng can thiệp ? Có người còn trách rằng, cứ ai lo phần nấy, các tôn giáo không đoàn kết, nên cộng sản dễ đàn áp là phải !
Những thắc mắc, trách cứ này cũng đúng. Tuy nhiên, có những trường hợp đặc biệt cần phải lắng nghe, tìm hiểu, chờ đợi tiếng nói chính thức từ tổ chức, giáo phái bị đàn áp. Ngay cả các nhà lãnh đạo các giáo phái bị bức hại, đôi khi cũng quá dè dặt, không chịu lên tiếng phản kháng. Không văn thư, không lên tiếng phản kháng, thì căn cứ vào đâu để mọi người chung quanh biết đường hỗ trợ ?
Lại nữa, vị thế của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) rất đặc biệt nhạy cảm, dễ bị Nhà cầm quyền cộng sản nghi ngờ, kết tội, không phải ai cũng dám liên hệ. Ngay cả Thiền sư Nhất Hạnh, người đã có quốc tịch nước ngoài, khi về nước, năm 2005, cũng không bao giờ dùng danh xưng GHPGVNTN cùng chức vụ chính thức khi ngài cần tiếp xúc với Đức Tăng Thống, Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang và Hoà thượng Viện trưởng Viện Hoá Đạo, Thích Quảng Độ, ngài chỉ xưng hô đơn thuần là Hoà thượng Thích Huyền Quang, Hoà thượng Thích Quảng Độ, như tên những người bình thường, không chức vị gì trong Giáo Hội, trong khi đối với các vị ở Giáo Hội khác thì Ngài cẩn thận ghi đầy đủ chức vị rõ ràng. (xin xem, “Trả lời thư Thiền sư Nhất Hạnh” của Thượng tọa Thích Viên Định, Thông cáo báo chí của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế phát hành ngày 22.1.2005, tại Trang nhà Quê Mẹ, Paris : http://www.queme.net).
Về vấn đề Dân oan đòi nhà, đòi đất, nói chung, của toàn dân, không phân biệt tổ chức, tôn giáo, đảng phái nào, GHPGVNTN đều đã lên tiếng, ủng hộ từ lâu.
Chuyện Bát Nhã, Lâm Đồng như trên đã nói, là vấn đề xảy ra có vẻ rắc rối, tế nhị. Vừa có vẻ là chuyện nội bộ của chư Tăng tu theo pháp môn Làng Mai với Thượng toạ Đức Nghi, Trú trì chùa Bát Nhã, vừa có vẻ là chuyện xích mích nội bộ trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam với Thiền sư Nhất Hạnh, lại cũng có vẻ là chuyện xính mích nội bộ của Nhà cầm quyền cộng sản về Thiền sư Nhất Hạnh. Thiền sư Nhất Hạnh là khách của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, về hợp tác với Giáo Hội và Nhà cầm quyền Cộng sản. Trong vụ này, chưa hề thấy thiền sư Nhất Hạnh trực tiếp lên tiếng như thế nào. Sự việc chưa rõ ràng nên không biết căn cứ vào đâu để hỗ trợ. Nhưng, việc Nhà cầm quyền cộng sản trấn áp chư Tăng Chùa Bát Nhã bằng cách cúp điện, cúp nước, ném đá, ném phân, ngăn chặn đường, không cho người vào tiếp tế lương thực, là một hành động đàn áp tôn giáo quá rõ ràng. Việc đàn áp kéo dài, xảy ra ngay bên cạnh. Nạn nhân lại là đồng bào, đồng đạo, ai thấy mà không tức giận, đau lòng.
Không phải quí Hoà thượng trong GHPGVNTN không lên tiếng. Thực ra, quí ngài đã lên tiếng từ lâu rồi. Năm 1998, nghe tin Thiền sư Nhất Hạnh dự định về Việt Nam hợp tác với Nhà cầm quyền cộng sản, Hoà thượng Thích Quảng Độ đã viết thư đề nghị Thiền sư Nhất Hạnh, bằng những lời nhẹ nhàng, tế nhị, đại ý : “Việt Nam chưa có tự do, dân chủ, nhân quyền, đừng về hợp tác, buôn bán, làm ăn, coi chừng sập tiệm, sẽ mất cả chì lẫn chài !”
Bất chấp lời khuyên của Hoà thượng Thích Quảng độ, năm 2005, Thiền sư Nhất Hạnh về Việt Nam, kéo theo đoàn tuỳ tùng đông đảo lên đến 100 người. Chuyện đã lỡ, nhưng còn nước còn tát, Thượng toạ Thích Viên Định cố gắng viết một tâm thư, “Trả lời thư Thiền sư Nhất Hạnh”, phân tích lợi hại chuyến về Việt Nam không được khế thời, và tường trình cặn kẻ cho Thiền sư Nhất Hạnh biết, nhân dân Việt Nam đang bị khốn khổ vì nạn độc tài, độc đảng, nhân quyền, tôn giáo bị đàn áp rất nặng nề. Hy vọng qua thư đó, thấy rõ sự đau khổ của đồng bào Việt Nam, bị kiềm kẹp trong ách độc tài, Thiền sư sẽ đi theo con đường của GHPGVNTN, hợp cùng với các thân hào nhân sĩ và 85 triệu đồng bào, vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam.
Trong tâm thư “Trả lời Thiền sư Nhất Hạnh” có đoạn nói rõ rằng : “… Ngài đã ở nước ngoài lâu rồi, coi như khách, lại về Việt nam chỉ có ba tháng, nên cách đối xử cũng khác, chánh phủ tiếp Ngài như tiếp phái đoàn quốc tế tham quan vậy thôi. Nếu Ngài về ở ba năm thì vấn đề lại khác, chưa chắc được như vậy”. Thật vậy, năm 2005, phái đoàn Thiền sư Nhất Hạnh từ Pháp về, được tiếp đón trọng thể như thượng khách. Nhưng 3 năm sau, cuối năm 2008, Nhà cầm quyền cộng sản bắt đầu trở quẻ, và nay, 2009, chính thức hạ lệnh trục xuất tăng thân của Thiền sư.
Cho đến nay, chưa thấy Thiền sư Nhất Hạnh có phản ứng chính thức với Nhà cầm quyền, mặc dù những năm gần đây, Ngài đã có sự liên hệ thân mật với Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Có lẽ, vì vướng víu chuyện gì đó, nên Ngài còn tránh né, không tiện lên tiếng với Nhà cầm quyền cộng sản chăng ?Gần đây, tháng 8.2009, trong bài tường trình của một Tăng sinh ở chùa Bát Nhã, có lồng vào bức thư riêng của Thiền sư Nhất Hạnh gửi Thượng toạ Đức Nghi, nội dung có tính cách thầy trò, Ngài chỉ nói chuyện phải trái, chuyện nội bộ với Thượng toạ Đức Nghi, tuyệt không có lời nào đề cập đến việc đàn áp, trục xuất của Nhà cầm quyền cộng sản đối với Tăng, Ni chùa Bát Nhã.
Thiền sư Nhất Hạnh quên rằng, thầy Đức Nghi mặc dù là đệ tử cầu pháp của Ngài, nhưng cũng là thành viên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam với chức vụ Phó Ban Trị sự Giáo Hội tỉnh Lâm Đồng, mà Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, tổ chức ngoại vi của Đảng cộng sản Việt Nam. Vậy, Thượng toạ Đúc Nghi vừa là đệ tử của Thiền sư Nhất Hạnh, vừa là cán bộ ngoại vi của Đảng cộng sản, chịu ân huệ của cả hai bên, bên trung bên hiếu, không biết phải chọn bên nào. Tội nghiệp cho Thầy Đức Nghi, mặc dù là trú trì, nhưng hoàn cảnh trên đe dưới búa, không thể tự chủ thì giải quyết được việc gì. Thiền sư Nhất Hạnh không trực tiếp nói chuyện với Nhà cầm quyền cộng sản, lại đi nói chuyện phải quấy với Thượng toạ Đức Nghi. Lâm vào thế khó xử, nhiều lúc Thầy Đức Nghi phải tìm cách lánh mặt khỏi chùa Bát Nhã.
Vì, rõ ràng, qua những văn kiện của Ban Trị Sự tỉnh Lâm Đồng, của Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, nhất là những Văn thư của Bộ Nội Vụ, Ban tôn giáo về vụ chùa Bát Nhã, xem ra vấn đề còn nhiều nguyên nhân sâu xa, không phải là chuyện nội bộ của chư Tăng chùa Bát Nhã, nên Thượng toạ Đức Nghi không thể nào giải quyết được.
Việc các nhóm du đảng, xã hội đen, dùng bạo lực ném đá, ném phân lên người, lên xe của chư Tôn đức trong Ban Trị sự Giáo Hội tỉnh Lâm Đồng thuộc nhà nước, khi đến thăm chùa Bát Nhã, trước sự chứng kiến của công an, có vị bị thương rất nặng, phải vào nằm bệnh viện, nhưng lạ một điều, mặc dù rất đau đớn, tức giận, không thấy vị Hoà thượng, Thượng toạ nào lên tiếng phản đối hành động man dã, có sự bao che của Nhà cầm quyền.
Có lẽ chư Tăng thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt nam quen chịu nhẫn nhục, hoặc vì một lý do nào khác, không thể nói được ? Câu Cảnh Sách : “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu” (1) bỏ đâu mất rồi ? Con em, đồng đạo trong vòng tay của mình mà mình còn không dám cứu thì hy vọng gì việc cứu giúp cho ai ?
Vậy là, từ Thiền sư Nhất Hạnh đến các đệ tử của Ngài, các Hoà thượng bị đánh trọng thương, bị ném phân đầy mình, trong Ban Trị Sự Giáo Hội tỉnh Lâm Đồng đều im lặng, không ai lên tiếng phản kháng Nhà cầm quyền cộng sản trong vụ đàn áp, trục xuất chư Tăng chùa Bát Nhã, Lâm Đồng. Tất cả đều im lặng, một sự im lặng khó hiểu.
Sự im lặng đó có thể là kết quả của việc thu phục để sử dụng của cộng sản theo phương châm của Lê-nin : “Đảng phải thông qua tôn giáo để khống chế quần chúng”, nghĩa là, cho các Tôn giáo tổ chức tu học, nhưng không được chống đối, phải biết im lặng, phục tùng, tuyên truyền cho chế độ.
Có lẽ, chuyện hục hặc xảy ra ở chùa Bát Nhã, Lâm Đồng chỉ là một tai nạn bất ngờ, tai bay vạ gió, không ai mong muốn, trong sự hợp tác giữa Nhà cầm quyền cộng sản với Thiền sư Nhất Hạnh. Nhà cầm quyền cộng sản muốn thu phục chư Tăng chùa Bát Nhã, Lâm Đồng để sử dụng, giống như tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc.
Tình trạng Tăng, Ni chùa Bát Nhã hiện nay như rắn mất đầu, rất dễ thu phục. Vậy là Nhà cầm quyền cộng sản đã đạt được mục đích rồi, và có thể đã làm hài lòng thượng cấp. Đó cũng là câu trả lời cho Thiền sư Nhất Hạnh và những ai mơ mộng hợp tác với Nhà cầm quyền độc tài, vô thần, cộng sản để làm văn hoá, làm giáo dục, làm từ thiện, thấy được cái kết cuộc sẽ như thế nào. Chặt rễ, chặt gốc, từ từ cây sẽ chết, chết đứng, không cần xô ngã, khỏi mang tiếng. Nếu không khéo che mắt thiên hạ như thế, thì tại sao ông Đại sứ Hoa kỳ tại Việt Nam, Michael Machalak, lại ca ngợi nhà nước Cộng sản Việt Nam “đã có tiến bộ về quyền tự do tôn giáo”, trong khi, sự thật các tôn giáo vẫn cứ bị đàn áp triền miên ?
Vừa qua, thấy bài trả lời phỏng vấn của sư cô Chân Không trên một tờ báo nước ngoài, cô nói về những cái kẹt của thiền sư : “…Cái kẹt thứ hai là của mấy người ở Trung ương bị Trung Quốc ức hiếp. Sư Ông Nhất Hạnh từng phát biểu trên một đài truyền hình Ý về vấn đề Tây Tạng. Nhóm thủ cựu Việt Nam sợ Trung Quốc, lời phát biểu của Sư ông làm cho Trung Quốc giận…” Qua đó, lộ ra một phần những nguyên nhân sâu xa làm xảy ra việc đàn áp, trục xuất chư Tăng, Ni tu theo pháp môn Làng Mai của Thiền sư Nhất Hạnh, ở chùa Bát Nhã, Lâm Đồng. Đó là một chi tiết không mới lạ, nếu có dịp sẽ tìm hiểu thêm.
Thích Viên Định
(1) Câu này trích từ bài văn Cảnh sách của Ngài Quy Sơn (Quy Sơn cảnh sách văn) tức một trong năm phần phù trì luật Sa di (gồm có Kinh Di giáo, Bát đại nhân giác, các văn Khuyến phát bồ đề tâm, Cảnh sách văn, và Tỳ ni nhật dụng thiết yếu), có nghĩa : “Người xuất gia là cất bước thì muốn vượt tới phương trời cao rộng, tâm tính và hình dung khác hẳn thế tục, tiếp nối rạng rỡ giòng giống của Phật, làm cho quân đội của ma cũng phải rúng động khuất phục, với mục đích báo đáp bốn ân, cứu vớt ba cõi”<8em> PTTPGQT chú.
Thứ Hai, 21 tháng 9, 2009
Thứ Hai, 14 tháng 9, 2009
ĐIÊN ĐẢO
Thượng tọa Thích Viên Định, Phó Viện trưởng kiêm Tổng thư ký Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, vừa gửi đến Phòng Thônbg tin Phật giáo Quốc tế bài viết “Điên đảo” mà trọng tâm nhằm phân tích sự kiện Nhà cầm quyền Hà Nội bắt bớ, khủng bố những người YÊU NƯỚC mà Hà Nội kết án tội “cấu kết với các thế lực thù địch âm mưu lật đổ chính quyền”. Thế nhưng, Nhà cầm quyền Hà Nội chẳng bao giờ tự vấn lương tâm để tìm ra thủ phạm : Ai là “Thế lực thù địch” của dân tộc đang “âm mưu xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam ?
Xin mời quý độc giả đọc bài phân tích ấy sau đây :
ĐIÊN ĐẢO
Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam thường gán tội “cấu kết với các thế lực thù địch âm mưu lật đổ chính quyền” lên các thành viên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, các Giáo Hội độc lập của các tôn giáo, các thân hào, nhân sĩ, các nhà trí thức, các văn nghệ sĩ, các sinh viên, học sinh biểu tình, vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải cho Tổ quốc Việt Nam.
Không một quốc gia văn minh, dân chủ nào trên thế giới có “các thế lực thù địch âm mưu lật đổ chính quyền”, không luật pháp nước nào có tội danh đó.
- Tại sao Nhà cầm quyền độc tài Cộng sản luôn có các “Thế lực thù địch” ?
Năm 1975, Cộng sản Bắc Việt dùng vũ lực cưỡng chiếm miền Nam rồi duy trì sự cai trị độc tài, độc đảng suốt từ đó đến nay bằng súng đạn, quân đội, nhà tù, công an, khủng bố, bưng bít, lừa dối, tuyên truyền. Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam là một trong số rất ít những nhà cầm quyền còn sót lại trên thế giới đã cướp chính quyền bằng bạo lực. Trong khi đó, toàn dân lại luôn mong muốn có một chính quyền được bầu cử hợp pháp bằng lá phiếu của người dân một cách tự do, dân chủ, công bằng, một chính quyền thật sự của dân, do dân, và vì dân. Không do dân bầu, bất hợp pháp, nên Nhà cầm quyền độc tài cộng sản Việt Nam luôn ở trong tình trạng bất an, lúc nào cũng cảm thấy có “các thế lực thù địch âm mưu lật đổ chính quyền”.
Trong một chế độ dân chủ, đa nguyên, đa đảng, câc đảng phái, mặc dù đối lập nhau, nhưng không thù địch, trái lại, hỗ tương, bổ khuyết nhau, rất cần cho sự cạnh tranh để phát triển đất nước. Trái lại, dưới chế độ độc tài, độc đảng, thì bất cứ tổ chức, cá nhân nào vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, đều bị xem là vi phạm luật pháp, là thù địch.
Mặc dù bị nhà cầm quyền độc tài bỏ tù, quản thúc, gán tội vi phạm luật này, luật nọ, những điều luật mơ hồ, phản tự do, phi dân chủ, chống nhân quyền, trái với Công ước quốc tế… những người bị hãm hại này lại chính là những người mà Đức Cố Tăng Thống, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang gọi là những người “tù không tội”. Bởi vì vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, toàn vẹn lãnh thổ, góp công với đất nước, sao gọi là tội ?
- Các “ thế lực thù địch” của Nhà cầm quyền cộng sản là ai ?
“Thế lực thù địch” dễ biết nhất là cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản ở nước ngoài, tiếp đến là các đảng phái chính trị không cộng sản trong và ngoài nước, và cuối cùng là 85 triệu người dân Việt trong nước ngày đêm mong muốn được sống trong không khí Tự do, Dân chủ, Nhân quyền như các dân tộc văn minh khác trên thế giới. Ngoài ra, cũng phải kể đến một số tổ chức, hội đoàn và chính quyền các nước văn minh chống độc tài, độc đảng, yểm trợ các phong trào vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, công bằng, phát triển tại Việt Nam.
- Có “âm mưu lật đổ chính quyền” hay không ?
Tất cả các đảng Cộng sản trên thế giới đều dùng bạo lực để cướp chính quyền. Trái lại, các đảng phái chính trị, không cộng sản, của người Việt trong và ngoài nước, các cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản, các nhà lãnh đạo tôn giáo, các bậc sĩ phu, trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, học sinh và 85 triệu người dân trong nước, hiện nay, không có thành phần nào chủ trương dùng bạo lực để lật đổ chính quyền.
Theo trào lưu dân chủ trên thế giới, người dân Việt Nam, ai cũng mong muốn có một cuộc bầu cử trong tự do, dân chủ, công bằng để bầu ra một chính quyền đích thực “của dân, do dân, và vì dân”. Đảng phái nào được dân ủng hộ, đắc cử, thì đứng ra lập chính quyền. Trong thế giới dân chủ, văn minh ngày nay không chấp nhận việc dùng bạo lực để cướp chính quyền. Cũng không chấp nhận việc dùng súng đạn, công an, nhà tù…để duy trì quyền lực.
Nhà cầm quyền độc tài Cộng sản Việt Nam, theo chủ thuyết Mác-Lê, vừa sai lầm, vừa lạc hậu đã cản trở bước tiến của dân tộc. Vì đặc quyền đặc lợi, muốn tiếp tục nắm giữ quyền hành, nhưng Nhà cầm quyền cộng sản lại không dám tranh cử công bằng với các đảng phái, cá nhân thuộc thành phần đối lập, nên cố tình gán cho các thành phần khác là “các thế lực thù địch” để dễ tuyên truyền, đàn áp, tiêu diệt. Việc ghép tội “âm mưu lật đổ chính quyền” lên các cá nhân, đảng phái đối lập là hoàn toàn vu cáo.
Tình trạng độc tài đảng trị lâu ngày sinh ra các tệ nạn tham nhũng, hối lộ, cắt xén, mua bằng, bán chức…làm băng hoại xã hội, cản trở bước tiến của dân tộc. Lo lắng trước hiểm hoạ độc tài này, trong Thư Chúc Xuân gửi các bậc sĩ phu, trí thức, văn nghệ sĩ năm Ất Dậu, 2005, Đại Lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã nói rằng, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và trong cương vị Tăng sĩ, chúng tôi không làm chính trị, không tham gia chính trị. Nhưng chúng tôi phải có thái độ chính trị”. Hoà thượng đã đề nghị giải pháp đa nguyên đa đảng, bước đầu có thể là 3 đảng, “Chỉ cần một đảng tả khuynh, một đảng hữu khuynh, một đảng trung hòa đại diện cho các dòng suy nghĩ chính lưu”. Nhưng Nhà cầm quyền cộng sản cứ khăng khăng cố giữ thể chế độc tài độc đảng, cho rằng “bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát”. Điều 4 trong Hiến Pháp hiện nay, dành cho Đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo đất nước, giống như thời phong kiến, Thiên tử, con trời, được độc quyền cai trị đất nước, không ai được tranh giành.
Nghị quyết 1481, ngày 25.1.2006, Quốc Hội Âu châu đã lên án các Đảng cộng sản trên thế giới là phi nhân tính, là thảm hoạ dân tộc, là tội ác chống nhân loại. Hoa kỳ đã lập Đài tưởng niệm trên 100 triệu nạn nhân đã bị các chế độ cộng sản sát hại trên thế giới. Vậy mà Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vẫn còn tiếp tục làm những việc trái luật pháp, phản dân chủ, bắt người, giam giữ mà không cho liên lạc với thế giới bên ngoài, không cho luật sư biện hộ, dùng những lời khai, đưa lên báo, đài để bôi nhọ, lăng nhục, trong khi Hiến Pháp, điều 72, xác nhận rằng : “ Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”.
Không sao cả, có thể, nay một vài luật sư, mai vài ba bác sĩ, ngày mốt là các tu sĩ, bữa kia là công nhân, rồi tiếp đến là nông dân, thương gia, sinh viên, học sinh…các giới cùng bị đưa lên báo, đài, với cùng tội danh, “chống nhà cầm quyền độc tài, vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền và công lý”. Càng có nhiều người chống độc tài, nền dân chủ sẽ đến với dân tộc ngày càng gần hơn.
Mỗi người, tuỳ sức khoẻ cá nhân, tuỳ hoàn cảnh gia đình, vợ dại, con thơ, cha già, mẹ yếu, có cách đối phó riêng trong cuộc chiến giành tự do rất gian khó này. Cần phải sống để giành cho được Tự do, Độc lập cho dân tộc. Cái tội, “chống độc tài, yêu tự do”, ai lại không muốn lãnh ? Nếu những người vận động cho tự do, dân chủ, nhất thời có bị đàn áp, chỉ đưa tới sự thắng thế của bạo lực, không có gì phải tủi hỗ. Cuối cùng, Tự do, Dân chủ sẽ thắng !
Tuy chăm chú việc lên án các đảng phái chính trị và những người khác chính kiến là “thù địch”, nhưng hiện nay Nhà cầm quyền cộng sản, luôn tránh né, không bao giờ đề cập, lên án tội “ Cấu kết với thế lực thù địch âm mưu xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam”, cái tội liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của tổ quốc và dân tộc mà các nhà lãnh đạo các tôn giáo, các đảng phái, các tổ chức, các sĩ phu, trí thức, sinh viên, học sinh và 85 triệu người dân đang rất quan tâm, hồi hộp, lo lắng từng ngày. Nếu gọi là thù địch thì giặc ngoại xâm mới thật sự là thù địch. Không nên điên đảo, nhìn kẻ cướp nước là bạn, xem đồng bào ruột thịt là thù.
Cái “ Thế lực thù địch lâu đời” này mới đáng lo, nó không âm mưu lật đổ chính quyền, mà nguy hại hơn, “âm mưu xâm chiếm Tổ quốc Việt Nam !” . Việc thay đổi chính quyền chỉ là chuyện nhỏ, chuyện nội bộ. Tổ quốc là của chung, không phải riêng ai. Các đảng phái thay nhau lập chính phủ chỉ là sự cạnh tranh, cần có, tránh sự trì trệ, để phát triển đất nước. Không thể một mình một chợ, một đội bóng một sân banh, mặc tình, tham nhũng, hối lộ, cắt xén, làm đất nước suy yếu, nghèo đói, tụt hậu. Nay, đảng này lên, mai, đảng kia xuống, chỉ là những chuyện thường ngày trong các bản tin thời sự quốc tế, không có gì là quan trọng, ầm ĩ hay thù địch. Tổ quốc bị xâm lăng mới là chuyện lớn, mới là chuyện thù địch.
- “Thế lực thù địch” của Dân tộc đang “âm mưu xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam” là ai ?
Hỏi tức là trả lời. Toàn dân, già, trẻ, lớn, bé, ai cũng biết, cái “thế lực thù địch” với Tổ quốc và dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay chính là Bắc phương ! Việt Nam đang bị Hán hoá ! Hoạ mất nước đã bắt đầu :
- Năm 1958, Nhà cầm quyền Trung cộng tuyên bố lãnh hải của Trung quốc bao gồm các hải đảo Hoàng sa, Trường sa của Việt Nam. Năm 1974, Trung cộng đánh chiếm quần đảo Hoàng sa. Năm 1979, Trung cộng đánh chiếm 6 tỉnh miền Bắc, khi rút về, dời cọc biên giới, lấy mất Ải Nam quan, Thác Bản Giốc. Năm 1988, Trung cộng đánh chiếm quần đảo Trường sa. Năm 2005, 2006, ngư dân Thanh Hóa ra đánh cá trong vùng lãnh hải Việt Nam quen thuộc, nhiều lần bị lính Trung cộng bắn chết, bắt người bị thương, cướp ghe thuyền kéo về giam cầm tại đảo Hải Nam Trung quốc. Năm 2007, Trung cộng tuyên bố thiết lập Huyện Tam sa bao gồm các quần đảo Hoàng sa, Trường sa của Việt Nam. Năm 2008, Trung cộng và nhà cầm quyền Hà nội hoàn thành việc cấm mốc biên giới phía Bắc lùi sâu vào địa phận lãnh thổ Việt Nam. Năm 2009, Trung cộng được nhà cầm quyền Hà nội mời vào khai thác quặng Bô-xit ở Tây nguyên, gây nguy cơ an ninh quốc phòng nơi vùng chiến lược yết hầu của Việt nam và Đông dương do sự uy hiếp của hàng chục nghìn công nhân Trung quốc. Ngoài ra còn tàn phá môi trường, thải ra hàng núi Bùn đỏ độc hại làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, lâu dài trong lòng đất, sông ngòi và khí hậu cho cả khu vực Nam Trung bộ và Miền nam Việt Nam. Nguy hại nhất là vị trí chiến lược quốc phòng bị chiếm đóng. Năm 2009, Trung cộng cấm đánh cá 3 tháng trên Biển Đông, bắt tàu thuyền, ngư dân Việt Nam, đòi tiền chuộc…
Suốt 4 ngàn năm lịch sử, ông cha ta không làm mất một tấc đất, ngày nay, mới vài chục năm, tổ quốc đã bị xâm lấn từ biên giới phía Bắc đến hải đảo phía Đông, cả Tây nguyên cũng sắp mất.
Đã xác định được “thế lực thù địch âm mưu xâm lăng Tổ quốc” là “Trung cộng” thì cũng xác định được :
- Ai là kẻ “cấu kết với thế lực thù địch âm mưu xâm lăng Tổ quốc” ?
Nhân dân Việt Nam, với truyền thống anh hùng, mấy nghìn năm chống “thế lực thù địch phương Bắc”, tại sao ngày nay lại để quê hương tổ quốc, từng phần, rơi dần vào tay kẻ thù truyền kiếp một cách âm thầm như vậy ?
Phải có sự cấu kết trong nước nên các cuộc biểu tình, lên tiếng chống Trung cộng của sinh viên, học sinh và đồng bào ta mới rụt rè, yếu ớt, mau tàn rụi vì bị hăm doạ, cản trở từ phía Nhà cầm quyền vào đến cảc trường đại học bởi lý do : “không được phép”.
Phải có sự cấu kết trong nước, Trung cộng mới vừa là kẻ xâm lăng vừa lại được ưu tiên trong việc đấu thầu các công trình khai thác ở Việt Nam.
Phải có sự cấu kết trong nước, Trung cộng mới dễ dàng xâm chiếm các hải đảo, lãnh hải, biên giới, đưa dân tràn vào Việt nam một cách tự do, ào ạt, không cần chiếu khán. Đây là một cuộc xâm lăng kiểu mới, rất tinh vi, quân dân Trung cộng đang đổ bộ vào chiếm đóng nước ta một cách nhẹ nhàng, êm thắm, không tốn một viên đạn, không mất một giọt máu.
Quân đội và đồng bào ta đã anh dũng hy sinh để bảo vệ tổ quốc trong các trận chiến đảo Hoàng sa năm 1974, đảo Trường sa năm 1988, nhất là cuộc chiến rất ác liệt ở biên giới phái Bắc năm 1979, gần 40 nghìn quân đân Việt Nam đã bỏ mình vì tổ quốc, vậy mà hàng năm không thấy tổ chức kỷ niệm, nêu gương hy sinh bảo vệ tổ quốc cho con cháu noi theo. Trái lại, cứ mỗi lần Tết đến, Nhà cầm quyền lại tổ chức viếng lễ các nghĩa trang quân xâm lăng Trung cộng, đặt vòng hoa : “đời đời nhớ ơn các liệt sĩ Trung quốc”.
Công Hàm ngày 14.9.1958, do Thủ tướng Bắc Việt, Phạm văn Đồng, ký công nhận tuyên bố của Trung cộng, lãnh hải Trung quốc bao gồm đảo Hoàng sa và Trường sa của Việt Nam, có phải là bằng chứng cấu kết với thế lực thù địch âm mưu xâm lăng tổ quốc ?
Phương châm 16 chữ vàng : “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và 4 tốt : “láng giềng tốt, hợp tác tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” có phải là bằng chứng của sự cấu kết ?
Đảng cộng sản Việt Nam theo chủ thuyết Mác-Lê với lý tưởng : “vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo”. Nếu hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung quốc đã : “ hợp tác toàn diện” theo lý tưởng “vô tổ quốc” trong tinh thần : “đồng chí tốt” thì còn gì là Dân tộc !, còn gì là non sông !
Hoạ mất nước đã đến, tái hiện cảnh : Ngàn năm làm nô lệ Bắc phương !
Tổ quốc lâm nguy !!!
Thích Viên Định
Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2009
Chùa Điều Ngự và lễ Vu Lan (Phật Lịch 2553)
Ngày 09-09-2009, giờ 16:26
Trân trọng kính chuyển đến Quí Vị, và Quí Đạo hữu Bản tin phóng sự Đại Lễ VU LAN tổ chức tại Chùa Điều Ngự vào lúc 11 giờ ngày Chủ Nhật 06 tháng 9 /2009 vừa qua của Phóng Viên Đỗ Dũng Nhật báo VIETHERALD số 66 phát hành ngày thứ hai 07/9/200. Thay mặt ban Tổ Chúc chúng tôi xin Cám ơn Phóng viên Đỗ Dũng và Ban Chủ nhiệm Nhật Báo VietHerald đã cử Phóng Viên đến tham dự và làm phóng sự nhanh chóng, đồng thời cho phép chúng tôi phổ biến rộng rãi bài phóng sự này. Nhân Nhân đây chúng tôi xin bổ túc thêm, trước đó Chùa đã cử hành trang trọng lễ Trai Đàn chẩn tế từ 4 giờ chiều đến 8 giờ tối với hơn 300 tín chủ ghi danh cho thân thuộc tham dự trai đàn giải oan bạt độ tham dự.- Và trong ngày lễ Vu Lan theo Tiểu ban Hoa Hiếu Hạnh và Tiểu ban Chúc Thọ cho biết thì số lượng 2000 Hoa hồng Vàng và card Mùa Vu Lan Hiếu hạnh đã gắn hết trong ngày Đại lễ ngoài trừ 120 chiếc Ban Xã Hội kết hợp cùng Đoàn Phật Tử An Lạc Phụng sự, Đại diện Đoàn Cựu Huynh Trưởng miền Vạn Hạnh, Đại diện Liên Khuôn Phật Học, Đại diện Gia đình Phật Tử Điều Ngự và Đại diện các Khuôn Hội Westminster, Garden Grove, Huntington Beach đã đến thăm viếng Quí Cụ Cao niên đang ở trong nhà dưỡng lão HELPING HANDS WESTMINSTER nhân dịp Lễ Vu Lan vừa qua. Tiểu Ban Chúc Thọ cũng cho biết 170 Quí Cụ Cao Niên có tuổi thọ từ 75 đến 90 tuổi đã vui vẻ tham dự Lễ Chúc Thọ, 170 phần quà (trên tổng số 200) rất có ý nghĩa về mặt tinh thần và 170 vòng hoa Hiếu Hạnh đã được hàng con cháu Chùa Điều Ngự dâng lên Quí Cụ trong niềm hân hoan tôn kính và đầy tình đạo vị giữa những người Con Phật qua nhiều thế hệ trong ngày Hiếu Hạnh dưới mái Chùa chung. Một lần nữa xin cám ơn Quí Cụ và nhất là Quí Cụ đã được con cháu diù đi Lễ Phật và tham dự Lễ Chúc Thọ vui chung, Kính chúc Quí Cụ an khang trường thọ, bồ đề tâm kiên cố và sở cầu như nguyện.Kính Chúc Quí Vị, và Quí Đạo hữu thường an lạc, vạn sự như ý.HVP/chơn diệuTruyền Thông & Ngoại VụChùa Điều Ngự.
Phật Tử Chơn Diệu Hoàng Văn Phong, một thành viên ban tổ chức Đại Lễ Vu Lan tại chùa Điều Ngự, giải thích với phóng viên Việt Herald tại sao dùng hoa hồng vàng: Hiếu hạnh không của riêng ai, mà là của tất cả mọi người. Vì vậy, chúng tôi gắn cho mỗi người đến tham dự một hoa hồng vàng để tất cả cùng hưởng hiếu hạnh.
Ngay trên cả trên bàn thờ chính và các bàn thờ khác trong chùa Điều Ngự hôm Chủ Nhật đều được trang trí bằng hoa hồng vàng.
Nguồn : nhan0912@yahoo.com
Thứ Tư, 9 tháng 9, 2009
ĐÀN TRÀNG CHẨN TẾ CÔ HỒN TẠI CHÙA ĐIỀU NGỰ
Tháng Bảy là Mùa Vu Lan, riêng Chùa Điều Ngự, Văn Phòng II Viện Hóa Đạo- GHPG VNTNHN tại Hoa Kỳ trước khi chính thức tổ chức Đại Lễ Vu Lan vào ngày Chủ Nhật, 6-9-09; từ Thứ Hai 31-8-09 đến Thứ Sáu, 4-9-09, Qúy Chư Tăng và Đạo Tràng chùa đã tụng kinh Vu Lan và kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân, dâng sớ Cầu siêu…Đặc biệt vào lúc 4 giờ chiều ngày Thứ Bảy 5-9-09 Chùa đã cử hành trọng thể Đàn Tràng Chẩn Tế Cô Hồn kéo dài đến hơn gần 8 giờ tối.
Bắt đầu Lễ Khai kinh trong chánh điện. Chuông trống Bát Nhã vang rền trong không khí thật trang nghiêm. Gần ba trăm thiện nam tín nữ Phật tử có ghi danh sách thân nhân quá vãng xin tế độ hôm nay . Gia trì buổi lễ là Hòa Thượng Thích Viên Thành,. Ban Kinh sư có Hoà Thượng Thích Thiện Hữu, Thượng Tọa Thích Viên Quang, Thượng Tọa Thích Viên Huy, Thượng Tọa Thích viên Dung. Thượng Tọa Thích Viên Thông và Đại đức Thích ẩn Minh. Thượng Tọa Thích Viên Lý cùng ba cư sĩ khăn đóng áo dài đại diện chủ tế. Sau lễ khai kinh Chánh Điện, Ba hồi chuông trống Bát Nhã cung nghinh Chư Tôn Đức đến vị trí Đàn Tràng được thiết lập trong khuôn viên Phật Bà Quan Thế Âm để tuần tự hành lễ trước bàn thờ Địa Tạng Vương và Diện Nhiên Đại Sĩ rất trang nghiêm. Hai bên là các bàn thực phẩm đủ loại cúng tế các cô hồn…. hai bàn Hương Linh với nhiều bài vị của người quá cố. Tiếp theo trong địa hình ngũ giác là 5 bàn Ngủ Phương Phật, Chư Tôn Đức đi lần lượt từng bàn để hành lễ mổi bàn khoảng 10-15 phút. Đối diện Địa Tạng Phật là Bàn Phật . Sau đó Thượng Tọa Thích Viên Huy Tả bạch lên Đàn tràng Thỉnh Sư đăng Đàn Chẩn Tế .
Hòa Thượng Thích Viên Thành, Gia trì lên đứng trong một màn vải vàng trang nghiệm niệm ấn quyết giải oan bạt độ thập loại cô hồn, tiếp theo là 6 thầy trong Ban Kinh sư đã luân phiên tụng đọc …Cuối cùng là lễ cầu siêu cho thân nhân các Phật Tử và đồng hương đã gởi danh sách đến Chùa, Nay được đọc tất cả và các thân nhân đội sớ cầu xin Đức Phật tiếp dẫn cho siêu thoát về miền cực lạc…Chư Phật tử thành tâm lễ bái với lời tụng niệm của các Thầy trong không khí tôn nghiêm, huyền diệu …Buổi lễ chấm dứt trong niềm vui hân hoan và thỏa lòng hiếu hạnh của người Phật Tử đã hướng về Tổ tiên, Ông Bà cha me, cửu huyền thất tổ quá vãng chư hương linh trong ngày Vu Lan xá tội vong nhân. Đồng thời tỏ lòng cung kính biết ơn Chư Tôn Đức đã liên tục cử hành nghi lễ trong 4 giờ liền trong không khí oi bức của cuối Hè Nam Cali. Nhân dịp nầy N.T đi một vòng phỏng vấn quí vị tham dự lễ. Đầu tiên N.T gặp một cô xinh xắn đang nói chuyện giọng Huế với hai bác hơi lớn tuổi.
-Xin lỗi cô cho biết qúy danh ? Cô là Phật tử ở chùa Điều Ngự phải không? Và đã sinh hoạt ở đây được bao lâu?
-Tôi tên Phước, tôi không phải là Phật tử chùa này! Tôi chỉ mới lui tới giúp chùa hơn năm tháng nay!
-Cơ duyên nào cô đến chùa Điều Ngự?
-Tôi có một người bạn, chồng chị ấy chết và đưa vào đây làm lễ tụng niệm, thế là tôi có dịp đến chùa Điều Ngự dự lễ. Chị ấy bảo với tôi, khi chồng chị ấy trở bệnh nặng, qúy Thầy thay phiên nhau và cùng đạo tràng của chùa cầu an hàng đêm. Đến khi chồng chị quá yếu chờ hấp hối, Thầy Trụ trị và Ban Hộ niệm đích thân đến hộ niệm, Tiếp theo làm lễ phát tang chôn cất, quý Thầy ở đây lo liệu chu toàn mà không đặt điều kiện. Thế rồi hàng tuần tôi theo chị bạn vào chùa làm thất thất lai tuấn ( 7 tuần = 49 ngày ) cho anh ấy ròng rả mấy tháng trời. Tôi thấy các Thầy ở đây vui vẻ, thân thiện, nhiều từ tâm, sự tu tập và giới đức trang nghiêm vì thế tôi ngưỡng phục, và từ đó cuối mỗi tuần tôi lại vào đây phát tâm làm công quả giúp chùa hàng tuần và hôm nay lo việc trai đàn . Ngày mai sau Đại Lễ Vu Lan, tôi sẽ phát tâm quy y tại chùa này!
Bác lớn tuổi nghe vây cũng tham gia vào chuyện:
- Pháp danh tội là Chơn Đại đã đi sinh hoạt rất nhiều Chùa, do vậy biết rất nhiều sinh hoạt các chùa. Chùa nào cũng thờ Phật, cũng tốt cả! Nhưng rốt cuộc, tôi thấy chùa này thích hợp với tôi về mọi mặt, không có tính cách phân biệt giàu nghèo, không phải là chỗ khoe con, khoe của…,nhất là ở đây đạo hạnh của Quí Thầy hiền hòa và sự tu hành chân chính và thường giảng pháp sau mỗi khóa lễ cho Phật Tử thấu rõ lẽ Đạo nhiệm mầu , do vây chúng tôi thường xuyên về Chùa để tu tập trong tinh thần tương thân tương ái, bình dị như nhau , nên rất thoải mái….
Bà bạn bác Chơn Đại mau mắn cười hiền hòa lên tiếng:
-Bác có Pháp danh là Tâm Thường đã đưa hết hình ba má bên bác, ba má bên chồng và chồng bác lên đây thờ, Quí Thầy hoan hỷ đón nhận, không đặt điều kiện gì cả, Bác cho biết ở Chùa Điều Ngự mỗi tuần vào tối thứ ba , thứ năm cũng như trưa ngày thứ bảy đếu có các khóa lễ và đều có Cầu An và Cầu Siêu cho hương linh ký linh taị Chùa, 2 giờ ngày chủ nhật đều có giảng Pháp, thật vui mừng và phước đức quá! Thỉnh thoảng bác chỉ mang hoa quả và tùy tâm cúng dường vào phụ với chùa trả tiền điện, chứ bác già rồi đâu có làm gì ra tiền, mà vẫn được đối xử vui vẻ tử tế lại được ân cần thăm hỏi nên được an ủi vào tuổi già, Thật qúi hóa quá và nhất là an lòng cho việc hậu sự của mình bởi vì Quí Thầy rất chu toàn trong mọi việc. Hơn mười ngày nay các Thầy đọc kinh cầu siêu cho thân gia đình các thiện nam tín nữa không biết mỏi mệt, và nay hơn 4 giờ tụng niệm chí thành vô vị lợi thật đáng khâm phục vô cùng!
Trời sập tối ,N. T cám ơn các cô bác trong tình đạo vị đã vui vẽ trả lời các câu phỏng vấn và ra về với niềm hoan hỷ tràn ngập trong lòng…
Thứ Hai, 31 tháng 8, 2009
Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2009
Thông bạch Vu Lan của Hội đồng Lưỡng Viện
THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 20.8.2009
Thông bạch Vu Lan của Hội đồng Lưỡng Viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
PARIS, ngày 20.8.2009 (PTTPGQT) - Viện Hóa Đạo trong nước vừa chuyển đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để phổ biến Thông bạch Vu Lan của Hội đồng Lưỡng Viện (Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo). Toàn văn Thông bạch như sau :
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤTVIỆN HÓA ĐẠO
Thanh Minh Thiền Viện 90 Trần Huy Liệu, Quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh
Phật lịch 2553
Số: 06/HDLV/TB/VTTHÔNG BẠCH VU LANCỦA HỘI ĐỒNG LƯỠNG VIỆN
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch chư Tôn đức Giáo phẩm,
Kính thưa chư thiện tín Phật tử trong và ngoài nước,
Chúng ta đang sống trong mùa Vu lan, mùa nhắc nhở chúng ta sống đời sống hiếu hạnh. Hiếu hạnh là hạnh quan trọng mà theo lời dạy của đức Phật, đó chính là Phật hạnh.
Vu Lan ngày nay không còn là ngày lễ riêng của Phật giáo mà do tính khế cơ, Vu Lan nghiễm nhiên đã trở thành truyền thống văn hóa của nhiều dân tộc, đặc biệt là dân tộc Việt Nam.
Lẽ ra, trong thời gian này, chúng ta có nhiều thắng duyên để làm tròn chữ hiếu, hiếu với Tam bảo, với quốc gia, với các bậc sanh thành dưỡng dục và với tất cả muôn loại chúng sinh. Thế nhưng, giữa bối cảnh của một quê hương bất công, lầm than và rách nát, quyền sống con người bị tước đoạt, nhân phẩm bị chà đạp, đất nước đang bị đe doạ bởi nạn ngoại xâm, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đang trong vòng kiềm tỏa, bản thân tôi và chư tôn Giáo phẩm Hội Đồng Lưỡng Viện trong nước vẫn liên tục bị trấn áp, chư tôn Giáo phẩm và Cư sỹ Phật tử đang phục vụ Giáo hội tại hải ngoại cũng bị tấn công, xuyên tạc, bôi nhọ, tất cả đều chìm ngập trong đêm dài của nạn độc tài toàn trị, vì thế việc thể hiện trọn vẹn hiếu hạnh, nhất là hiếu hạnh đối với đất nước trong hoàn cảnh hiện nay, đang là một trở ngại lớn lao.
Tuy nhiên, trước thực trạng đầy thống khổ như thế, là người con Phật, với lý tưởng của Bồ tát đạo, chúng ta không thể không dấn thân hành hoạt để giải thoát tự thân và giải cứu nỗi khổ của đồng bào và hết thảy muôn loài.
Thưa chư liệt vị,
Đức cố Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang dạy rằng: “Ở đâu có khổ đau, ở đó còn cần đến sự giải trừ khổ hoạn”. Việt Nam đang trực diện với quá nhiều khổ hoạn, nghĩ đến lời dạy của đức cố Đệ tứ Tăng thống và bản hoài xuất thế độ sinh của chư Phật, chúng ta không thể không tích cực hành động. Chúng ta hành động không vì tranh giành quyền lợi của ai cả mà chỉ vì phúc lạc lâu dài cho dân tộc và nhân loại.
Với bản thệ hoằng hoá độ sinh, dù Giáo hội đã và đang gặp nhiều chướng duyên, thử thách, kể cả những lúc tình trạng sinh tồn bị đe doạ thật sự, Giáo Hội vẫn sẵn sàng hy sinh vì sứ mệnh hoằng dương chính pháp, lợi lạc quần sinh. Bản thân tôi cũng như tất cả chư tôn Giáo phẩm trong Hội Đồng Lưỡng Viện, trước sau như một, quyết tâm giữ vững thệ nguyện sắt son của mình và nhất định không bao giờ bán rẻ lương tri để thoả hiệp với thế lực vô minh manh động.
Vu lan là mùa báo hiếu, Vu lan cũng là mùa giải khổ. Với tâm từ bi, trí tuệ sẵn có, Giáo Hội kêu gọi sự thể hiện Bồ tát hạnh của tất cả chư liệt vị. Trước nạn ngoại ma nội chướng, Giáo hội cũng khẩn thiết kêu gọi chư liệt vị hãy quan tâm củng cố, bồi dưỡng đức tin và tăng triển kiến giải cho giới trẻ, phát huy tinh thần vị tha vô uý, thừa kế xứng đáng sự nghiệp độ sinh của chư Phật, chư Tổ, phát khởi Bồ đề tâm, tuỳ theo hoàn cảnh, tổ chức lễ Bố Tát sau khóa An cư kiết hạ nhằm trưởng dưỡng năng lực thanh tịnh, phát huy dụng lực tuệ giác và xem đó như việc làm chủ yếu để đền đáp bốn ân, cứu khổ ba đường.
Thưa chư liệt vị,
Lịch sử là do con người tạo nên. Hạnh phúc hay khổ đau cũng do chính con người kiến lập. Không có bất cứ thành quả ưu thắng nào mà không xuất phát từ tác nhân thánh thiện và cũng chẳng có bất cứ tác nhân thánh thiện nào mà không dẫn đến những thành tựu ưu thắng. Trong ý nghĩa ấy, thay mặt Hội đồng Lưỡng Viện, tôi thân ái gửi đến chư liệt vị lòng biết ơn sâu xa và cầu chúc chư liệt vị một mùa Vu lan tròn đầy hiếu hạnh.
Cầu nguyện tổ tiên, ông bà, cha mẹ nhiều đời, người quá vãng được siêu sinh, kẻ hiện tiền được trang nghiêm phước huệ; âm siêu, dương thái, thế giới nhân loại chung sống hoà bình, nền văn minh Từ bi - Trí tuệ được hiển sinh, chánh pháp hưng long, đất nước tránh được họa ngoại xâm, dân tộc phú cường, chúng sinh an lạc.
Nam Mô Vu Lan Thắng Hội chư Phật, chư đại Bồ tát, chư Hiền Thánh Tăng tác đại chứng minh.
Chùa Giác Hoa, Sài gòn, ngày 12 tháng 8 năm 2009
T.U.N. Đại Lão Hoà thượng Xử Lý Viện Tăng Thốngkiêm Viện Trưởng Viện Hoá Đạo
Phó Viện trưởng kiêm Tổng thư ký Viện Hoá Đạo, GHPGVNTN
(ấn ký)Thượng toạ Thích Viên Định
Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2009
Buổi Thuyết pháp ứng khẩu
Buổi Thuyết pháp ứng khẩu của Pháp sư Thích Giác Đức. Trong dịp ra mắt tập Thơ “Tù” của Đại lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ, tại Sydney ngày 14/6/2009.
Trần Diệu Quán lược ghi
Trước hết, chúng tôi xin kính chào quý ngài và quý vị. Hôm nay chúng tôi không biết phải nói như thế nào diễn tả được sự vui mừng của chúng tôi khi gặp lại quý ngài và quý vị ở đây. Có những vị mà tôi đã được gặp từ năm 1963 đến bây giờ, tuy là mấy chục năm xa cách, nhưng thoáng nhìn thì thấy có rất nhiều vị đã quen biết và chúng tôi cũng có lời tán thán công đức quý ngài. Ở đây, đáng lý chúng tôi sẽ nói chuyện thật dài, nếu có nhiều thì giờ, nhưng vì thì giờ không có. Ban tổ chức chỉ cho 45 phút. Tôi cũng xin được phép cải chính chức vị của chúng tôi là Tổng Ủy viên kế hoạch của Văn Phòng 2 Viện Hóa Đạo (VP2 VHĐ) kiêm phó Chủ Tịch của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) tại Hoa kỳ.
Làm kế hoạch thì tôi dựa vào một số tiêu điểm. Cái tiêu điểm đó tức là những tiêu chuẩn, là những cái gì có lợi cho mình, có lợi cho người, có lợi bây giờ mà về sau vẫn có lợi ích và không có hại cho bất cứ ai thì cái đó có thể xúc tiến được. Và những cái nào mà đem lại lợi ích cho mình mà có hại cho người thì nhất định không làm dù người ấy là người nào. Và những cái nào có lợi cho mình, có lợi cho người, có lợi bây giờ nhưng di hại về sau thì cũng nhất định không làm. Những cái nào có lợi ích cho tổ quốc, cho đạo pháp mình, nhưng di hại cho nhân loại nhất định không làm. Thì đấy là kế hoạch nó khó như vậy Làm sao có một kế hoạch, làm sao có một nền hoà bình mà tránh được chiến tranh? Có nhiều khi phải làm hòa bình, muốn làm hòa bình thì phải có chiến tranh. Thí dụ như bây giờ người ta cướp nước mình và bảo rằng mình không chiến tranh thì làm sao giữ được nước? Do đó cho nên phải nghiên cứu kế hoạch nào để không phải lưỡng lợi mà đa lợi. Lợi đây là lợi ích chứ không phải lợi lộc. Là một tu sĩ phật giáo không bao giờ mong lợi ích về quyền lực, mà cũng chẳng mong lợi ích về thế lực, và cũng không mong lợi ích gì về những lợi lộc vật chất.
Chúng tôi xin phép được nói tóm tắt về Đức Giáo chủ của chúng ta. Điều thứ hai là nói sơ lược về giáo lý của chúng ta và điều thứ ba là giáo hội của chúng ta.
Chúng ta thấy, nói đến đạo Phật tức là nói đến con đường mà tự mình giải thoát cho mình. Con đường tự mình cứu khổ mình và có thể đem con đường giải thoát của Đức Phật để cứu khổ cho nhân loại. Như vậy, đạo Phật không những là một tôn giáo chỉ ra phương hướng để giải thoát mà còn là con đường hoá độ để cứu khổ cho chúng sinh. "Thượng hoằng Phật Đạo hạ hoá chúng sinh" .....
Đạo Phật là một đạo giải thoát, siêu thoát, nhưng là một đạo nhập thế hoá đạo cứu đời. Cho nên chúng ta thấy đạo phật là một tôn giáo đại đồng cho toàn thể nhân loại. Nhưng đạo Phật lại cũng là một tôn giáo ủng hộ chủ nghĩa quốc gia rất mãnh liệt để bảo toàn lãnh thổ, bảo toàn nền văn minh cho mỗi nơi, mỗi vùng và đặc biệt là tôn trọng nền độc lập của mọi quốc gia. Do đó cho nên chúng ta thấy vị giáo chủ của đạo Phật là Đức Phật, một vị giáo chủ rất hoà bình. Chúng ta có thể nói Đức Phật về nhiều phương diện, nhưng mà không có Đức Phật nào mà không có hoà bình, vì chẳng có tượng Phật nào mà không mỉm cười. Đến chùa thấy tượng Phật là thể nào cũng thấy có tượng Phật mỉm cười rồi:
"Gió luồn khe cửa chao đèn vật.
Một nụ cười xưa phát thệ nguyền.."(Thanh Tịnh)
Hễ nói đến đạo Phật là người ta nói đến từ bi, đạo từ bi. Và nói đến đạo Phật là người ta nói đến đạo giác ngộ. Bởi vì trước khi Đức Phật nhập niết bàn thì A Nan hỏi rằng:
Bạch Đức thế tôn, sau khi Ngài nhập niết bàn thì chúng con tôn ai làm thầy?
Phật đã nói rằng:
Này A Nan, sau khi Như Lai nhập niết bàn thì các ngươi hãy lấy giới luật làm thầy, từ bi làm chí nguyện và trí tuệ làm sự nghiệp (Kinh Di Giáo).
Có ai làm thầy mình hơn là chính giới luật làm thầy. Không phải một vị sư có quyền phạm giới được. Không phải một nhà vua có quyền phạm giới được. Tất cả từ Tăng chúng sinh đến tín đồ, từ người lớn đến người nhỏ, từ những vua quan, chính quyền cho đến thứ dân và tất cả mọi người đều phải tôn sùng giới luật và pháp luật. Chứ không phải tôi là chính quyền thì tôi muốn bỏ tù ai thì bỏ tù. Đâu có phải tôi là nhà nước thì tôi muốn giết ai thì giết. Không! Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, tức Giới hòa đồng tu.
Hãy lấy giới luật làm thầy. Giới luật là: Một vị cư sĩ ở tại gia có 5 giới. Một vị xuất gia sa di có 10 giới. Một vị pháp sư như chúng tôi thì 58 giới và 10 điều nguyện. Nhưng đã thọ giới rồi và đã giữ giới rồi thì thà chết không phạm giới. Cho nên sau khi Đức Phật nhập diệt hay bất cứ lúc nào, đã là người Phật tử, đã là một người có đạo đức, bắt buộc phải giữ giới. Trong những giới đã thọ mà giữ được toàn thể thì gọi là Toàn Phần Giới Luật , giữ được một phần thì gọi là Thiểu Phần Giới Luật và giữ được phần lớn thì gọi là Đa Phần Giới Luật. Bất cứ ai giữ được những điều giới luật mình đã nguyện thọ trì thì cái đó gọi là tịnh giới. Không thể có người tịnh giới mà thọ rất nhiều giới rồi thì phạm giới lung tung. Không được! Không cho phép. Cho nên giới luật làm thầy, là phải tôn trọng giới luật. Chỗ nào có sự tôn trọng giới luật làm thầy thì chỗ ấy Phật pháp không thể bị suy đồi. Đó là mục đích của thế gian này. Lấy giới luật làm thầy, lấy từ bi làm chí nguyện. Đạo Phật là đạo từ bi, nói đến đạo Phật là thấy sự hiền lành. Chính vì vậy, qua suốt giòng lịch sử trên 2500 năm của đạo Phật trên mặt đất này, không có một chỗ nào mà đạo Phật đã khuyến dụ để có chiến tranh cả. Nhưng đạo Phật cho phép một cư sĩ tại gia hay cả tu sĩ xuất gia, khi giặc đến chiếm đất nước thì phải dấn thân để đi ra bảo vệ tổ quốc, bảo vệ giống nòi và bảo vệ lãnh thổ. Thế nên chúng ta không ngạc nhiên khi biết Trần Hưng Đạo là một nhà sư, Lý Thường Kiệt là một nhà sư, Ngô Thời Nhiệm là một thiền sư và Nguyễn Trãi là một thiền sư. Lịch sử cho phép như vậy và đã chép như vậy đó. Trong thời Trần, một nửa dân chúng ở trong nước là tu sĩ, nhưng ở giòng tu sĩ có gia đình (bán thiên hạ vi Tăng). Các vị mở sử ra mà coi, muốn biết Trần Hưng Đạo là một nhà sư ở đâu thì mở Đại Việt Sử ký toàn thư ở bản kỷ trang 41 a & b thì thấy Trần Hưng Đạo là một nhà sư. Đọc lịch sử thấy Lý Thường Kiệt có phải một chú sa di bỏ giới, phải xả giới để hoàn tục. Từ hoàn tục đến tự cung để đi vào trong triều đình cùng với vua. Vua mới tuyển từ đó ra mặt trận mà làm kinh thiên động địa: phía Bắc thì đánh Liêm Châu, Ung Châu tức Quảng Đông Quảng Tây, miền Nam thì đánh suốt từ bến Nhật Lệ và mấy lần đuổi quân xâm lăng, bảo vệ lãnh thổ với mặt trận ở sông Như Nguyệt như thế nào ...... các vị biết rồi đó. Ba lần xả giới. Trần Hưng Đạo xả giới để đại phá quân Mông cổ ra sao. Trận Bạch Đằng như thế nào các vị còn nhớ? Các nhà sư đấy! Hiền lành đấy! Nhưng mà cầm võ khí để chống giặc, bảo toàn lãnh thổ .
Thành ra, chúng ta sống trong một nước Phật giáo như Phật giáo Việt Nam (PGVN), không thể và không giống như Phật giáo Campuchia, không giống như PG Miến Điện. Chúng ta không thể tìm thấy một ngôi chùa, như tất cả các ngôi chùa mà giống hệt nhau ở trên thế giới. Chúng ta thấy lạ lùng là ngôi chùa Tàu giống chùa Tàu, ngôi chùa Việt giống chùa Việt, ngôi chùa Miên giống chùa Miên, ngôi chùa Thái giống chùa Thái. Không có một kiểu nhất loại là bắt tất cả thế giới phải nhất định theo một mẫu mực mà ngược lại Đạo Phật tôn trọng văn hoá của mỗi dân tộc, tôn trọng chủ quyền của mỗi dân tộc, tôn trọng lãnh thổ của mỗi dân tộc và tôn trọng tất cả sự sống của con người và loài vật. Đạo Phật là đạo từ bi, và chúng ta không thấy đạo Phật có chiến tranh và chúng ta thấy những Phật tử hiền lành lắm. Người Campuchia cũng hiền lành, hiền lành mấy nghìn năm cho đến khi chủ nghĩa Cộng sản truyền vào là đẻ ra một Polpot giết mấy triệu người một lúc. Các vị thấy trong lịch sử đó. Các vị thấy những người đang hung hãn, nhưng mà đến khi quy y đạo Phật, như quân Mông Cổ là quân hiếu chiến, mà đến khi quy y đầu Phật thì trở nên một sắc dân hiền lành. Chúng ta đã nhìn thấy thật rõ ràng. Chúng ta thấy đạo hữu của dân tộc ta “sinh ra đời mà không gặp Phật thì thờ phượng cha mẹ, chính là thờ Phật vậy“. (Kinh Hiếu Tử) Và chúng ta thấy sự hiền lành từ bi đã thấm nhuần vào ca dao:
"Bầu ơi thương lấy bí cùng.
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn".
Tình thương yêu như vậy mà đến khi ảnh hưởng bởi chế độ CS, thì con chỉ vào mặt mẹ, con lấy đá con ném cho mẹ chết. Vì sao? Thấy không? Có thấy không? Hãy nhìn xem chín năm CS cai trị ở Bắc Việt, đạo Phật ở Bắc Việt còn không? Và tàn tạ như thế nào? Nhìn xem CS cai trị ở Trung Quốc mấy chục năm, bây giờ PG Trung Hoa còn gì không? Cho nên nói: hỏi tức là trả lời. Chúng ta thấy đạo Phật là đạo từ bi, nhưng đạo Phật nhấn mạnh tới trí tuệ. Ở trong kinh có câu rằng “Duy tuệ thị nghiệp“ lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Nếu không có trí tuệ, chúng ta không ngồi đây, không đứng đây. Ngay từ thuở ban sơ, từ thời còn ở dưới hang, còn ăn con vật cả lông, còn ăn sống, chưa biết nướng chín, nấu chín, cho đến tiến bộ như ngày hôm nay, tôi đang cầm micro như thế này chúng ta đang ngồi dưới ánh điện như thế này là nhờ bộ óc của chúng ta theo con đường trí tuệ. Nhờ trí tuệ của chúng ta mà tìm ra chỗ nào có nước uống, để về sông mà uống nước. Về sông uống nước rồi tìm được chỗ nào có cây mọc để ăn trái, ăn củ, ăn lá và ăn rau, và cũng nhờ sông mà có cá ăn, cũng nhờ có trí tuệ, tìm cách làm nhà mà ở và nhờ có trí tuệ phát triển đến ngày hôm nay. Trí tuệ là sự nghiệp. Không có trí tuệ nhân loại chết rồi, không sống được, không tồn tại được. Chúng ta thử hỏi, nếu trí tuệ mất đi, mà chúng ta cứ say sưa, chẳng biết đâu là nhà, đâu là đường. Đường cái không đi, nhè bụi tre mà bước vào còn chửi cha đứa nào trồng tre giữa đường. Ai trồng cây giữa đường? Lý Bạch - một nhà thi hào Trung Hoa, uống rượu say rồi nhảy xuống nước, yêu mặt trăng, ôm mặt trăng mà hôn... chết tuốt. Ai kéo trăng xuống nước, ai trồng tre giữa đường? Chỉ vì vô minh, mà mất trí tuệ. Do đó cho nên phải lấy trí tuệ làm sự nghiệp.
Tôi sung sướng quá, ở trong kinh Viên Giác nói rằng bản thể vũ trụ là trí tuệ, là viên giác, tức là giác ngộ hoàn toàn tròn đầy, không còn huyễn hoá. Trong khoa học ngày nay thì nói rằng: The nature of universe is emptiness. Và nhà khoa học hiện nay còn sống, Stephens Hawkins, đang là một nhà toán học của Hoàng gia Anh nói rằng Tôi biết được bản thể vũ trụ là emptiness là Không, là nhờ tôi học thuyết chân không của PG. Trong khoa học tôi thấy ông ta nói: “ In the emptiness there’s something, some unseen materials. Trong cái chân không đó, cái bản thể vũ trụ đó có một thứ vật chất mà mắt người không thấy được. Ông ta nói: “Sở dĩ tôi thấy được điều đó là nhờ Đại thừa PG nói rằng “trong chân không có diệu hữu” Kinh nói trong chân-không có diệu hữu và chính vì trong chân không có diệu hữu cho nên trong khoảng trống không mà khoa học thấy đó có một cái gì gọi là thời gian. Vì cái ấy có phát triển cho nên có lịch sử thời gian. Và ông ta viết quyển "The History of times" (Lịch sử thời gian). Trước đó nhà bác học nổi tiếng Albert Einstein cũng nói về thuyết tương đối, có một ít tương tự Thuyết Duyên Sinh huyễn hóa vô thường vô ngã của Phật Giáo.
Cái bản thể chân không mà Đức Phật gọi là viên giác đó tức là trí tuệ tròn đầy. Và gần đây Đức đương kim Giáo hoàng của toà thánh La Mã của người công giáo trên thế giới, Ngài tuyên bố rằng: "Bản thể của vũ trụ là một structure”. Ngài nói là bản thể vũ trụ là một kiến trúc trí tuệ. (The nature of Universe is a structure of intelligence). Tôi đọc đến đoạn đó tôi đứng dậy và tôi cười,tôi Nam mô A di đà Phật , Đức Giáo hoàng nhìn thấy điều này giống như ở trong kinh Viên Giác. Nhưng chưa giống hệt, bởi vì nếu giống hệt, thì bản thể không là một structure, không là một cấu trúc, vì cái gì đã có cơ cấu thì có điều kiện, mà cái gì có điều kiện thì cái đó tương đối huyễn hoá, mà cái gì tương đối huyễn hoá thì không phải cái tuyệt đối. Bản thể phải tuyệt đối. Mà bản thể không dùng trí tuệ phân biệt, tương đối mà thấy được ”ly ngôn thuyết tướng” xa lìa cái tướng lời nói. “Ly danh tự tướng” cũng xa lìa cả sách vở cũng không dùng sách vở mà nói nó được. “Ly tâm luyên tướng” không dùng tư tưởng mà quán triệt nó được (Luận Đại Thừa Khởi Tín). Chỉ có thể dùng đại trí tuệ bát nhã mới thấy được cái bản thể của vũ trụ. Nhưng mà tôi chúc mừng Đức Giáo hoàng. Ngài là người công giáo đầu tiên đã nhìn thấy bản thể của vũ trụ là một cấu trúc, một cơ cấu kiến trúc trí tuệ. Đấy là sự sáng suốt lớn, nếu so với trong quá khứ. Carl Sagan là người đã tìm thấy thuyết Evolution tạm dịch là thuyết phát triển tự nhiên của vũ trụ. Cũng dựa trên Đạo lý duyên sinh của Phật giáo, hiện nay tất cả các đại học trên thế giới đều phải học về thuyết đời sống của một ngôi sao, ngôi sao là mặt trời, Và một mảnh của mặt trời là trái đất. Trong tất cả hư không như khi chúng ta đọc một câu trong kinh:" Nam mô tận hư không biến pháp giới thập phương tam thế". Tận hư không biến pháp giới ở trong cái không là hư không. Thế hư không thì ngoài hư không là chỗ nào? Không có đâu ngoài hư không hết, chỗ nào cũng là hư không. Nếu đã có một cái gì chiếm một thể tích hư không thì chỗ ấy đã có không gian rồi.
Bởi vì vũ trụ là gì?
Vũ trụ là tất cả là không gian và thời gian.
Thời gian thì chẳng phải trước sau. Thời gian chẳng trước chẳng sau. Không gian không có trên, dưới, trong, ngoài. Trên- dưới - trong- ngoài là do con người đặt ra. Trước, sau là quan niệm của con người gắn vào đó mà thôi, và ngày đêm chỉ là bóng dáng của thời gian, chứ tự nó chẳng phải thời gian. Cho nên không gian vô cùng, thời gian vô tận. Nam mô là trở về, là hoà đồng với bản thể tận hư không, là hết khắp các cõi hư không, biến pháp giới là toàn thể vũ trụ, thập phương là mười phương. Nói là 10 phương là nói cho loài người: Phương Đông, phương Tây, phương Nam , phương Bắc (4 phương), Đông Nam , Tây Nam , Đông Bắc, Tây Bắc (8 phương), trên và dưới là 10 phương. Nhưng nói 10 phương là vì chúng ta muốn giả định để biết phương hướng, chỉ gọi nó vậy thôi. Chứ làm gì có một phương nào nhất định là Tây đâu! Bảo Tây là kia nhưng trái đất vẫn quay thì Tây lại sang hướng này. Bảo đây là trên nhưng khi trái đất quay ngược lên trên thì trên kia nay là dưới. Trái đất hình tròn, nó quay “tùm lum“, thành ra chỗ nào trên đầu ta gọi là trên. Nhưng mà khi trái đất nó quay thì đầu ta ở dưới. Cho nên, đứng trên phương hướng mà nói cũng chỉ là đơn giản tượng trưng và tương đối thôi. Vì vậy, đứng trên phương diện trí tuệ, đạo Phật là đạo trí tuệ, đạo từ bi, đạo giác ngộ, đòi hỏi con người làm nhiều việc lắm. Nhưng có hai việc là tự độ và cứu khổ. “Chúng con khổ, nguyện xin cứu khổ” và “chúng con khổ nguyện xin tự độ”. Nếu mình không cứu mình, Đức Phật chẳng cứu mình được, và nếu mình không muốn cứu mình, thật sự mình có tu chứng thì mình cứu được mình và trong lúc mình cứu được mình thì mình có thể nhờ ơn Đức Phật cứu mình, cứu rỗi mình, cứu độ mình. Tôi đứng ở trên này là đâu phải tôi đứng một mình tôi. Đã có người nào ngày xưa đóng cái bục này, và cái bục này phải có sức hút của trái đất và có biết bao nhiêu những cái nhờ vả, tôi mới đứng ở đây được. Chứ nếu bây giờ có một người làm lệch quỹ đạo mặt trăng đi, trái đất mất sức hút đi thì tôi hết đứng đây. Thành ra “tăng thượng duyên” ở các nơi làm cho chúng ta ngồi đây được, làm cho chúng ta hiểu nhau được, tất cả đâu phải chỉ một mình mình. Cho nên, chúng ta nhờ tha độ đó. Mỗi tôn giáo đều nhờ vào một thần linh của mình. Đạo Phật cũng nhờ vào sự giúp đỡ của Đức Phật. Tha độ là tăng thượng duyên. Tất cả sự giúp đỡ của Đức Phật, những hào quang của Đức Phật, những vũ trụ tuyến, từ bản thể vũ trụ phát ra, ảnh hưởng đến đời sống của con người mỗi ngày. Không có tăng thượng duyên chúng ta không sống được. Cho nên, “chúng con khổ, nguyện xin cứu khổ“, tức là xin cho mình kết tụ được những tăng thượng duyên là những tha độ. Và “chúng con khổ nguyện xin tự độ”, phải tự mình độ mình bằng hanh trì và tu chứng.
Người Hoa rất yêu thương chúng ta. Nhưng CS Trung Hoa của chính phủ Trung Quốc đang lập một chương trình bauxite để cướp đất nước chúng ta. Mà chúng ta cứ nằm im thôi, rồi thì nếu cụ Quảng Độ không nói ra, mà cứ nghe người nào xúi dại, bảo rằng: “Đi tu thì mũ ni che tai, sự ai không biết, ai sao tôi vậy, tôi không nói bậy thôi”. Nếu Cụ Quảng Độ cứ ngồi im thì cả nước, cả thế giới có ai biết rằng mình đang sắp chết đuối mà đến cứu. Phải nói là ngưng bauxite đi! Không có lợi gì đâu. Đó là một cách họ kiếm cớ xây tiền đồn trên mái nhà Đông Nam Á, rồi họ cướp tất cả Đông Nam Á và nước VN bây giờ ...Ngưng đi! Không những thế mà phải ngưng. Tất cả các giòng sông đều bị hoá chất hết. Không những thế mà phải ngưng, núi trọc chết rồi thì nước chảy về, ngập hết. Sau cơn ngập lụt ở trên cao nguyên không chứa được nước, không có nước để thấm dần về đồng bằng, đồng bằng sông Cửu long nước mặn ở dưới trồi lên vì không có nước ngọt dằn xuống, nhà nông chết đói, Sài Gòn và một phần miền Trung không có nước ngọt uống. Chết ... chết ... Ngưng bauxite đi! Thì người ta bảo “Cụ đã tu không lo mà tu đi, cứ nói đến bauxite”. Mà nếu không ngưng bauxite, không ngưng ngay đi thì mất nước Việt đến nơi rồi... Dân nhà nông chết đói rồi, các sông ngòi không còn nước mà có thể uống được, bị thấm vào khoáng chất rồi mà không có nước ngọt ... Chết, nước mất rồi. Thành ra tu là phải có trí tuệ, phải giác ngộ, phải tự cứu mình và cứu người. Ngài chẳng làm được gì cũng như chúng tôi và cũng như chúng ta, nhưng ngài nói rằng, hãy nghe, hãy giác ngộ, hãy tỉnh lên đi, kêu lên đi, kêu ầm lên đi và cả thế giới quay vào cứu, phản đối . Bây giờ nó khựng lại rồi. Lúc đầu họ (CS) cấm ngặt mấy người quốc hội không được nói đến chữ bauxite, và bây giờ phải nói rồi, và cả thế giới người ta nói rồi. Được rồi, muốn nói thì cho nói, muốn hội thảo, được rồi cho hội thảo. Tưởng rằng người ta khen đảng , không ngờ 135 người (trong quốc hội) ký giấy phản đối phải ngưng ngay! Thành ra chúng ta chết đuối thì chúng ta cũng phải ráng mà ngoi lên mặt nước, đưa tay lên và nếu ngóc được lên mà hét thì có người khác cứu chúng ta. Bây giờ cả thế giới bắt đầu để ý cứu chúng ta rồi. Chúng ta, trên bước đầu, chúng ta được thoát chết chứ không còn mà âm thầm chịu chết nữa. Chắc chắn rằng cả nhân loại không để cho chúng ta chết. Và chắc chắn rằng các quốc gia Đông Nam Á sẽ chia sớt với chúng ta, và cả thế giới chia sớt với chúng ta trong vấn đề đó. Giúp chúng ta để mà giữ được Hoàng sa Trường sa ở phía Đông và ngưng ngay việc trên toan tính cướp nước chúng ta từ phía Tây. Chúng ta mới thoát ra trên lý thuyết thôi. Còn trên thực tế, người của bọn họ còn đó, thế lực CS còn đó, súng đạn còn đó. Có người bảo hừ mấy ông sư, giặc nó đánh đến nhà, không lo mà đánh lại, cứ lo bất bạo động, biểu tình tại gia, tại chỗ, không lẽ trùm mền tranh đấu ai đây. Xin thưa: Đấy là thái độ tranh đấu tại gia, xây dựng ý thức hệ tự chủ, " Nam quốc Sơn Hà Nam Đế Cư" đấy. Không có ý thức đó, không giữ được tổ quốc và lãnh thổ đâu. Mà không có cái đó mà đem ra bắn, anh có bán hết cả tài sản anh có để kiếm lấy vài ngàn hoả tiễn. Bán hết vài ngàn hoả tiễn thì lấy đâu ra bán. Muốn bắn nữa thì phải mua. Mua không được thì phải mời người khác. Mời người khác, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa thì sao đây? Không lẽ nằm yên mà chịu chết. Cho nên biểu tình tại gia, tức là nuôi dưỡng ý chí. Chúng ta ngồi ngay đây, không ra ngoài đường biểu tình, ngồi ngay đây và ý thức rõ ràng, quyền sống của người Việt, cái sự sống của người Việt, lãnh thổ của người Việt và nền văn minh của nước Việt. Chúng ta ý thức được cái đó, chúng ta đang biểu tình tại chỗ đấy, nếu không muốn gọi là tại gia thì nói rằng: Ngay tại chỗ này chúng ta đang rèn chí đấu tranh, bảo toàn lãnh thổ, nhằm kêu gọi nhân loại không cho phép Trung Cộng với sự tiếp sức của tay sai, âm mưu cướp nước ta và chuẩn bị đàn áp cuộc tranh đấu của chúng ta như đã làm ở Thiên an môn.
Việc gì đến sẽ phải đến dù hy sinh để mãi mãi xứng đáng với giống nòi “Anh hùng Hiếu Đạo”. Lời kêu gọi Tháng Năm Biểu tình tại gia Bất Tuân Dân Sự đã kết thúc, gây được tiếng vang mau chóng và nhận được sự hưởng ứng giúp sức của Quốc tế và nhân loại. Trung Cộng và tay sai Cộng sản bản địa đã “khựng lại”. Nhưng việc bảo toàn lãnh thổ và sự sống còn của dân Việt vẫn đòi hỏi phải trường kỳ đấu tranh bất bạo động đầy gian khổ và hy sinh hơn nữa.
(Giá như mà tôi có thì giờ đứng ở đây với các đạo hữu vài tiếng đồng hồ, tôi nói hết. Tôi xin vắn tắt).
Vậy thì Đức Phật không những là đấng đầu tiên dạy nhân loại biết sử dụng lý trí và phát triển trí tuệ của mình đến tuyệt đối, mà còn là người để lại cho nhân loại những tư tưởng lớn nhất và nhiều nhất trong tất cả các nhà tư tưởng của đông tây kim cổ. Không tin cứ mở sách ra mà coi có người nào để lại nhiều tư tưởng cho loài người qua lịch sử bằng Đức Phật không? Tôi thấy Đức Phật, tôi không khen đấng giáo chủ của tôi là nhất đâu, nhưng mà tôi không tìm thấy một nhân vật nào trên thế giới để lại cho nhân loại nhiều tư tưởng giải thoát và nhiều tư tưởng cứu khổ và nhiều tư tưởng để sống giữa vũ trụ và nhân sinh bằng Đức phật. Voltaire ở thế kỷ XVI là người đầu tiên ở Tây âu kêu gọi nhân loại sử dụng lý trí. Nhưng trước Voltaire, Đức Phật trên 2500 năm đã kêu gọi sử dụng lý trí để phát triển trí tuệ bản chất của lý trí ........ (Xin coi kinh Kalama).
Về giáo lý của đạo Phật thì đời vô thường - có đúng vô thường không? Đời khổ - có đúng khổ không? Người ta bảo không. Khổ là vì anh thiếu tình yêu thôi. Anh có tình yêu anh không khổ. Đồng ý! Nhưng mà “đường vào tình yêu, có trăm lần vui, có vạn lần buồn”. Tại anh sai mà anh khổ đấy! Đồng ý! Nhưng mà tại sao có người viết là "anh đã lầm đưa em sang đây". Vậy thì chúng ta có nhìn thấy khi chưa có được cái mà chúng ta khao khát. Có người bảo rằng, tại thiếu tình yêu, thiếu tiền. Vậy thì tôi xin thưa, rất ít người nghèo tự tử nhưng phần lớn là những người giàu - mới khổ chứ! Thử nhìn sự thống kê. Nghèo thì túng, túng thì bần, "bần cùng sinh đạo tặc, phú quý sinh lễ nghĩa". Biết vừa đủ thì luôn luôn đủ (tri túc thường túc). Bần cùng khổ lắm, nhưng trong cảnh bần cùng chúng ta vẫn phải chiụ đựng trên cả ngàn năm. Trong cuộc đời đầy khổ ải này chúng ta vẫn thương nhau, không ai thương chúng ta bằng chính chúng ta.
Các vị đến đây, tôi nhìn thấy, có các vị bận áo len, có những vị bận áo khoác, tôi mừng lắm, vì ít nhất thái độ đầu tiên là mình nghĩ đến là mình thương mình. Tuổi già rồi, chẳng biết đi về có ho hen không, cúm heo thì sao? (Cả hội trường cười ầm lên). Thành ra phải có cái áo khoác. Thành ra mình có thương mình, mình có trọng người khác và mình thương người khác thì đùm bọc. Trong cuộc đời này chúng ta đã nhìn thấy đạo Phật khuyên chúng ta yêu thương đùm bọc là như vậy đó. Và chúng ta biết giáo lý của đạo Phật, tuy rằng trong cuộc đời vô thường, nay còn mai mất, nay có mai không, chẳng cái gì bền vững. Và lớn như một đế quốc, như vũ trụ, nhỏ như một hạt bụi đều chuyển biến. Chuyển biến và đổi thay. Trong một satna là cái thời gian ngắn bằng 1/90 của một giây đồng hồ, như là một cái chớp mắt vậy, mọi sự mọi vật đều chuyển biến qua bốn giai đoạn: cái sinh ra, cái tồn tại, cái hao mòn và cái mất đi. Trong kinh gọi là “ thành, trụ, hoại không“ và trong các loài sinh vật thì "sinh, lão, bệnh, tử" . Chúng ta đang cười và chúng ta nhìn nhau vui ở đây, mà cả anh, cả tôi, cả cụ, cả cháu đều đang già đi một tí đấy. Cuộc đời nó biến chuyển như vậy đó. Thành ra, cuộc đời là đau khổ - Khổ đấy! Nhưng mà trong cái khổ đó nó có cái vui, và người có đạo là người biết nhận cái khổ làm cái của mình và đương đầu phấn đấu với cái khổ. Từ cái khổ ấy để mà tiến lên, mà thoát nghiệp. Người tu đạo Phật là người chuyển nghiệp, chứ không phải là người ôm cái nghiệp vào mình rồi bảo, đây là số mệnh, ta phải chịu. Ta không phải chịu một cái gì hết. Ta phấn đấu để sống và cải tổ cái biệt nghiệp và chúng ta cải tổ cái đồng nghiệp tức là cái cộng nghiệp chung. Từ cái biệt nghiệp là thân phận cá nhân và cái đồng nghiệp hay là cộng nghiệp là cải tổ xã hội. Tu dưỡng bản thân cải tạo xã hội đấy là con đường tu cộng nghiệp và biệt nghiệp. Chứ tu không phải là cúi đầu mà ai đánh thì chịu trận. Không! Từ bi không phải là thụ động, và nhẫn nhục không phải là đê hèn. Từ bi không phải thụ động. Từ bi nhiều lúc phải đánh cho quân giặc một vài cái tát để nó tỉnh lên, nó đừng cướp nước.
Do đó, thưa quý ngài và quý vị.
Chúng ta quan niệm từ bi một cách sai lầm . Vào thế kỷ thứ 12, Hồi giáo tràn vào Ấn Độ tiêu diệt PG. Có nhiều người hiểu lầm rằng, thôi từ bi đừng có đánh nó. Bây giờ vì vậy mà tại Ấn Độ đạo Phật đã suy nhược, không còn như thời xưa nữa. Thành ra năm 1963 khi thuyết trình trước hội đồng hoằng pháp của Tổng hội PGVN tôi phát biểu rằng: “không biết các Ngài nghĩ sao chứ theo chỗ chúng con hiểu thì từ bi không thể là thụ động được. Ai đánh con thì con đỡ. Ai đánh con nữa, con sợ con chạy, nhưng con nếu hết đường chạy thì sao? Không lẽ con đứng đó cho người ta đánh chết à! Bây giờ con phải đánh lại, mà con muốn đánh lại để tự vệ vì Phật không dạy con là phải để yên cho người ta đánh chết. Bởi vì đạo Phật đã sản ra bao nhiêu anh hùng dân tộc”. Có một vị, đó chính là ngài Tịnh Khiết mới chỉ cho tôi rõ, Ngài nói rằng: “chú nói đúng đấy nhưng mà chú diễn tả cái đó một cách dịu dàng hơn” (Năm ấy tôi còn thanh niên). Do đó, chúng ta thấy đạo Phật với những giáo lý của đạo Phật: giáo lý vô ngã, giáo lý vô thường và giáo lý nhiều nhất là nguyên nhân của sự khổ, cách cứu khổ, khổ vì sao mà có và trong khi được cứu khổ rồi thì chúng ta được như thế nào? Đây là giáo lý, những giáo lý vừa hợp với đủ mọi trình độ. Cho nên, chúng ta thấy trong đạo Phật có những nhà bác học. Ba nhà bác học hiện kim nổi tiếng nhất trong khoa học tây phương mà tôi vừa đề cập ở trên đều có cảm tình với đạo Phật và có người còn là Phật tử nữa.
Chúng ta cũng nhìn thấy ở trong đạo Phật có những người rất là bình dân, vì quá bình dân đến mức chất phác, không có óc cầu tiến dù rằng đạo Phật chủ trương: Từ kẻ trí người ngu đều có thể phát triển, đều có Phật tính. Đấy là chúng ta thấy về giáo lý của đức Phật. Thế nên khoa học càng tiến bao nhiêu thì giáo lý của đạo Phật càng được minh chứng bấy nhiêu. Và một giáo lý lạ lùng lắm, ở trong kinh A Hàm có nói rằng, sau đây nhân loại đến một thời gian nào đó, trái đất này sẽ huỷ diệt. A Nan mới hỏi là: Bạch Thế Tôn, tại sao như vậy? Chính vì cái nghiệp con người quá nặng, Đức Phật trả lời.
Năm ấy tôi nhỏ tuổi lắm, tôi lớn lên ở chùa ... tôi mở kinh ở thư viện Chùa Quán Sứ Hà nội, đọc và nghĩ rằng làm gì có chuyện con người tự làm ra cái để tự huỷ diệt mình . Không phải tôi không tin nhưng cứ phân vân cho đến khi tôi học hết ở Chu Văn An năm 1953 trước khi vào Nam một năm. Tôi vẫn cho là thật kỳ lạ. Có ai mà tự làm cái tự huỷ diệt mình không? Dù tôi có nghĩ Đức Phật nói đúng nhưng Đức Phật cho phép rằng đừng có nhắm mắt mà tin. “Các ngươi tin ta mà không hiểu ta là các người bài báng, chê bai ta vậy” Tôi cứ ngẫm nghĩ, mỗi đêm thiền định có suy nghĩ theo cách Chính Tư Duy, nghiên cứu kinh sách chữ Hán. Chịu khó đọc, nhưng cứ tìm mãi đến ngày tôi lớn lên rồi thì mới biết là Đức Phật nói đúng. Cho đến giai đoạn này thì thấy Đức Phật nói rất đúng. Cái nghiệp của con người tự tạo ra và cái nghiệp ấy nó tiêu diệt con người và trái đất - Mô Phật – Lúc này tôi thấy đúng vì nó hiện ra trước mắt rồi, không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi thấy nhiều quốc gia đã làm được nguyên tử, thậm chí cả ông Bắc Hàn vừa làm ra nguyên tử. Rồi đến mấy ông khác. Có nguyên tử rồi cũng run, chứ không phải tôi không có nguyên tử rồi tôi không run. Ông Mỹ có nguyên tử cũng run, ông Ấn độ có nguyên tử mà cũng run. Anh đừng làm, đi vào đây, vào cái “cỗ” sáu bên đi. Sợ nguyên tử là vì nếu nguyên tử mà nó nổ thì chết hết cả đám. Chỗ này bấm nút bay chỗ kia, chỗ kia bấm nút bay chỗ này, và nó tự động bay với nhau, ai rồi cũng chết. Trước đây có một lần tôi có một người bạn Mỹ nói cho biết là có người đề nghị dùng vài ba trái bom nguyên tử cỡ trung bình là giải quyết vấn đề miền Bắc VN trong vòng từ ba ngày cho đến một tuần lễ là giải quyết xong chiến tranh VN. Tôi nói không được vì sau cái đó chỉ còn đá quặng thì còn giải quyết được gì nữa. Đất nước tôi không thể thành đá quặng. Đồng bào tôi không thể bị tiêu diệt. Không! chấm dứt. Tôi nói thẳng như vậy. Ai hiểu là ai cũng được. Nhưng mà người đó có thẩm quyền và tôi năn nỉ chấm dứt vì chúng ta có cách khác.....
Bây giờ chúng ta nhìn thấy trái đất mỗi ngày mỗi ô nhiễm, nếu không tin nữa thì cứ làm bauxit đi, cả đồng bằng miền Nam, MeKong và cả đồng bằng các sông ở Trung Việt và cả đồng bằng sông ngòi ở Trung Việt sẽ không còn chỗ sống nữa. Một đồng bằng Bắc Việt, không thể nuôi cả dân chúng miền Nam . Đấy, con người - thí nghiệm của con người tự giết con người và nhìn vào chung quanh trái đất ô nhiễm. Chúng ta nhìn thấy trái đất nung nóng như thế nào. Chúng ta nhìn thấy đất nước chúng ta, một khi trái đất nung nóng như thế nào, thì băng giá Bắc cực tan ra, thì nước biển dâng lên, nước biển dâng lên 2 mét nữa thôi thì bao nhiêu vùng đất của quê hương chúng ta chìm xuống biển. Cho nên trong Kinh A Hàm Đức Phật nói từ trước mà chúng ta không có nghe, rằng nhân loại và trái đất này có thể bị huỷ diệt vì chính cái nghiệp, nặng nghiệp của con người gây ra. Vậy thì cái câu xin khuyên là tu cái nghiệp đi một chút. Thiền đi một chút!
Chúng ta nhìn lại đất nước, tôi tin rằng những người CS bây giờ, họ hơn ai hết nói CS macxit muôn năm đấy! CS muôn năm đấy! Đảng muôn năm đấy! Họ nói như vậy . Vì sao họ nói như vậy? Là vì không có mac-xit, CS thì không có đảng, không có đảng thì họ không có độc quyền, không có độc quyền thì không có tiền bỏ túi. Thế nhưng mà nếu bây giờ nói cho họ biết về CS thật đúng như chủ nghĩa CS nói thì họ không dám nghe đâu. Họ thích chuyên chính nhưng không thích vô sản vì họ giàu gấp mấy chục ngàn lần chúng ta. Nếu các vị không tin, (và tôi hy vọng rằng họ nghe vài câu nói của tôi), các bạn cứ thử điều tra xem có bao nhiêu ngân hàng ở Thuỵ sĩ, có bao nhiêu ngân hàng ở Cali đứng tên những lãnh tụ của đảng hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp. Dân VN có thể không đủ phương tiện để kiểm tra nhưng mà người Mỹ họ biết rõ những người nào có bao nhiêu tiền. Một người chuyên viên có thể nhìn thấy xe hơi của tôi đi ngoài đường, họ bấm lên một cái họ biết tôi sinh ngày nào, con ai và ở đâu, tôi có bao tiền trong ngân hàng. Sự thật là như vậy, chứ không phải dấu diếm gì. Vì vậy cho nên một thế giới đầy tham nhũng, đầy tham lam, một thế giới trùm hết lên dân tộc VN đầy tham nhũng, đầy hà khắc, đầy khổ cực và đầy giằn vặt, được cai trị bởi những lính gác gọi là công an, hàng ngày kèm theo theo dõi, dân chúng hằng ngày khổ cực mà cụ Quảng Độ đã gọi là “nhà tù lớn”. Rồi thì họ muốn “bình yên” không bị ai phản đối thì họ phá mình. Họ phá mình, 5 điều như họ đã phá ở trong nước:
Điều thứ nhất, mời Đức tăng thống Thích Huyền Quang đi ra Hà nội ở. Mà người nào đến mời? Vì nó quan niệm là ngài bị giam lỏng thì ngài là tù mà họ là đại tướng công an thì tặng cho họ chức cai tù. Tôi muốn nói đến ông Nguyễn Văn Hưởng là đại tướng công an, đến bạch Ngài Huyền Quang là : “thưa cụ, cụ nên ra Hà Nội ở cho khí hậu nó mát để cụ chữa bệnh ngoài đó. Rồi đại hội sắp đến cụ ra mà nhận ngôi Pháp Chủ”. Đức Tăng Thống trả lời: “ Không, tôi già rồi, tôi chả thích đi đâu nữa, đau yếu, tôi đi làm sao được, tôi ở đây thôi”.
- Không được, cụ đau yếu thì có bác sĩ đi kèm cụ, cụ già không đi được thì chúng tôi cho người võng cụ, cụ phải đi.
Khi nhận được câu ấy gửi về tôi nghĩ: mời cụ đi Hà Nội rồi đến đại hội đảng nó tôn cụ lên ngôi Pháp chủ, cụ nói gì không cần biết, nó cứ để cụ ngồi đó, chụp hình và nó đứng ra đọc một bản văn và nó tuyên bố GHPGVNTN là phản động, và cụ là Pháp chủ chứ không có thèm làm Tăng thống. Thế là nó giải tán viện Tăng Thống. Đó là điều thứ nhất.
Điều thứ hai, cho xây ngay, sửa ngay cái phòng kín mít chỉ đặt một cái lỗ kính ánh sáng ở trên nơi chùa Lý Quốc Sư Hà Nội. Người của tôi đến điều tra xem sửa cái này để làm gì. “Nghe nói là chúng tôi được phép xây, để đem cụ Quảng Độ ra đây ở đấy“. Vậy là giải tán luôn hội đồng VHĐ. Nhưng chưa hết, muốn cho Thầy QĐ với 22 ban đại diện bận rộn, không còn làm gì chống đối được nhà nước CS nữa, bèn ra lệnh công an cấp phường, ngày nào cũng phải bắt những người này, từ viện trưởng cho đến 22 ban đại diện đi làm việc - tức là không sợ thất nghiệp - Cụ Quảng Độ và một số ban đại diện khá lớn không đi. Có một vài người thử đi xem làm sao. Cứ sáng lên tối về, cứ ra đó “nộp mạng”, trình diện và tối về.
Điều thứ ba quan trọng lắm. Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng họp với các tướng công an toàn quốc đưa ra một số kế hoạch đại cương và hạ lệnh rằng “phải xoá sổ GHPGVNTN càng sớm càng tốt”. Như vậy là thủ tướng đã hạ lệnh cho công an chuẩn bị xoá sổ GHPGVNTN.
Điều thứ tư, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ở Tân Tây Lan, một quốc gia gần quý vị đây khi bị người ta hỏi về những dân oan như thế nào, thì chủ tịch nước trả lời rằng, những kẻ nào lợi dụng tôn giáo để âm mưu lật đổ chế độ, sẽ phải đền tội đích đáng trước pháp luật. Kẻ ấy là Ai nếu không phải cụ Quảng Độ? Phải không? Vậy thì đã xây sửa phòng cho Cụ Quảng Độ ở, dù chưa xử án, mà chủ tịch nước đã tuyên án như vậy. Đó là điều thư tư.
Điều thứ năm: cho radio, đài, báo hai tháng rưỡi ròng rả, chửi ròng rã tên cụ Quảng Độ. Ai về nước thì nghe rõ. Hoà thượng Quảng Độ không nói một tiếng nào.
Đó là 5 việc trong nước.
Còn việc ở ngoài thì:
điều thứ nhất, có những phần tử bất đồng chính kiến ở trong Giáo hội, phá trong phá ra, phá trên phá xuống, phá dưới phá lên, vào trong những giáo hội, địa phương có, trung ương có. Và lập ra ba tổ chức. Tổ chức thứ nhất là Tăng Ni Hải Ngoại, ký truyền đơn chửi Giác Đức rằng “tên đầu sỏ Thích Giác Đức”. Chúng tôi hỏi Qúy đại biểu Đại Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN Hoa Kỳ và các châu rằng : Bây giờ tôi làm phần việc kế hoạch của giáo hội mà họ gọi tôi là “ tên đầu sỏ”. Dạ thưa quý ngài, quý vị, đài phát thanh nào hay gọi tên đầu sỏ. Có một vị nói lớn lên (trong hàng ngũ chư tăng): Cộng sản. Vậy thì tôi nói CS đang đặt bảng danh dự cho tôi. Do đó chúng ta nhìn thấy những biến cố hiện trạng của PG đang bị như thế nào.
Ngoài cái tổ chức ấy ra chúng ta nhìn thấy: tổ chức thứ hai là Thân hữu Già Lam và tổ chức thứ ba là Về Nguồn. Già Lam là tên một ngôi chùa, ngài trụ trì ở đó là Đại lão HT Thích Trí Thủ. Ngài rất thương tôi và tôi rất kính trọng ngài. Ngài là vị sư mà tôi làm việc bên cạnh nhiều nhất trong đời sống tu hành của tôi.
Chúng tôi đã là người đi tìm đất để làm chùa Già Lam, từng ủng hộ chùa Già Lam ... Nhưng tổ chức Thân Hữu Già Lam thì chỉ mới được kết hợp và thành lập bởi một số ít cựu học Tăng hiện đang sống ở hải ngoại. Và tổ chức thứ ba là Về Nguồn mới họp sơ bộ vài lần bán chính thức thì Giáo Chỉ số 9 ra đời và Về Nguồn đã chính thức ra mắt sau Giáo chỉ số 9 chỉ chừng hơn tuần lễ. Cả ba tổ chức Tăng Ni hải ngoại, Thân hữu Già Lam và Về Nguồn đều có khuynh hướng giống nhau là đứng ngoài GHPGVNTN và ngoài sự lãnh đạo của Viện Tăng Thống và Viện Hóa Đạo. Thế nên thành viên của ba tổ chức này đã không khâm tuân Giáo Chỉ số 9 và không tham dự Đại Hội Bất Thường vào tháng 10 năm 2007 tại chùa Bửu Môn để hoán chuyển và bổ sung các chức vụ của GHPGVNTN ngõ hầu cứu nguy cho Giáo Hội. Hơn nữa chúng tôi vẫn tin rằng “Gia bần tri hiếu tử!...” nhưng đã thất vọng vì thấy có những người bạn lâu đời, giờ lại ly khai Giáo Hội. Đây là điểm càng trở nên nghịch lý, là bởi vì GHPGVNTN từ Ngài Đại lão Hoà Thương Thích Tịnh Khiết cho đến suốt bốn đời các Đức Tăng Thống, có biết bao nhiêu các vị Hòa thượng, Thượng Tọa, Đại đức, Tăng ni đã hy sinh và biết bao nhiêu thánh tử đạo đã tự thiêu mới thành lập nên GHPGVNTN thoát ra được dụ số 10. Ba tổ chức này đã làm méo mó tất cả, nên tôi gọi là nghịch lý.
Ba tổ chức hải ngoại và năm biến cố trong nước đều nhằm xóa sổ GHPGVNTN, mà nếu họ không làm được thì biến nó thành một GHPGVNTN có tính cách như giáo hội nhà nước thứ nhì hoàn toàn do đảng CS kiểm soát.
Qua Giáo Chỉ số 9, Đức Đệ Tứ Tăng Thống đã chỉ định Văn Phòng II trong trường hợp khẩn cấp ... có toàn quyền điều hợp cả trong lẫn ngoài, không những các GHPGVNTN trên toàn thế giới mà luôn cả trong nước nữa.
Kính thưa quý ngài, thưa quý liệt vị và anh chị em,
Trước hương linh của Đức cố Tăng thống và trước sự linh thiêng của lá cờ Phật Giáo thế giới, tôi tuyên bố rằng, nếu không có giáo chỉ số 9 thì GHPGVNTN đã tan nát hết rồi, không còn như ngày hôm nay. Cho nên dù bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta cũng phải bảo vệ GHPGVNTN. Riêng phần chúng tôi, trước khi có Giáo Chỉ số 9, tôi đã làm Phó Chủ Tịch Văn Phòng II, nhưng sau khi có Giáo Chỉ số 9 tôi cũng chỉ là 1 Tổng Ủy viên thôi. Nói thế để trả lời cho sự xuyên tạc rằng Quý Thầy trong Văn Phòng II muốn “có thêm chức vị”.Chúng tôi vừa trình bày về Đức Giáo Chủ, Đặc tính Giáo Lý và hiện tình Giáo Hội, xin phép được kết luận:
Kính thưa Quý Ngài, quý vị và anh chị em,
GHPGVNTN được thành lập từ năm 1964, nhưng sự thành hình từ các danh hiệu cho đến mọi phiên họp của Đại hội đã được Chư vị Tôn Túc dự trù từ ngày 31/12/1963. Năm ấy tôi 29 tuổi đã được Quý Ngài và Quý Đại biểu chọn là một vị sư trẻ nhất (trong Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo) để làm chủ toạ tiền hội nghị, thành lập GHPGVNTN. Từ đó cho đến nay tôi chỉ xin một điều là nếu có sự chia rẽ nào, bị ảnh hưởng bên ngoài, thì chúng ta trong Phật giáo phải bao dung nhau; tay phải mà đánh tay trái hay tay trái mà cố tình đánh tay phải thì chúng ta bị thương chứ không phải riêng cánh tay bị thương. Cho nên người phật giáo phải yêu thương nhau và kính trọng nhau.
Tôi xin cảm ơn quý ngài và quý vị và anh chị em. Xin phép hồi hướng công đức.
http://www.vietland.net/main/showthread.php?s=b12e4301fe03cca55a617d9dad40a4fd&t=8099


