Thứ Hai, 9 tháng 2, 2009

Thư mời hội luận


VĂN PHÒNG II VIỆN HÓA ĐẠO
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
HẢI NGOẠI TẠI HOA KỲ


THE VIETNAMESE AMERICAN UNIFIED BUDDHIST CONGRESS IN THE UNITED STATES OF AMERICA



CHÙA ĐIỀU NGỰ



14472 Chestnut St, Westminster, CA 92683. Tel: (714) 890-9513.
Email:chuadieungu@gmail.com


THƯ MỜI


THAM DỰ LỄ CẦU NGUYỆN QUỐC THÁI DÂN AN VÀ
HỘI LUẬN VỀ HIỆN TÌNH PHẬT GIÁO


Kính thưa Quí Vị


Thay mặt Ban Tổ Chức, chúng tôi trân trọng kính mời quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, quý đoàn thể, tổ chức, chính đảng, cộng đồng, quý cơ quan truyền thông và quý đồng bào, Phật tử hoan hỷ quang lâm tham dự Lễ cầu nguyện Quốc thái dân an, vẹn toàn lảnh thổ đồng thời siêu độ chư Chiến sỹ vị quốc vong thân và buổi Hội Luận về hiện tình Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và Vai trò người Cư sỹ Phật giáo trước thời đại

Lúc 1 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 15 tháng 02 năm 2009 tại Chùa Điều Ngự,
14472 Chestnut St., Westminster, CA. 92683
(ngay góc đường Hazard và Chestnut)


Lễ cầu nguyện và Hội luận đặt dưới sự chủ trì của đức Phó Tăng thống Thích Hộ Giác và chư Tôn đức lãnh đạo Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, đặc biệt có
Giáo sư Võ Văn Ái và Nữ sỹ Ỷ Lan từ Paris sang.


Mọi chi tiết, xin hoan hỷ liên lạc: Chùa Điều Ngự: (714) 890 - 9513

Trân trọng kính mời,


Thượng tọa
Thích Viên Lý




Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2009

Ngày Xuân đọc thơ Thiền

Thư chủ bút Gió O giới thiệu :

"Những gì ngắt đi từ sự sống, sự sống sẽ mất" (TV)

gio-o chào tháng Giêng với một sáng tác đặc biệt từ nhà thơ, nhà tranh đấu Nhân Quyền Thi Vũ

Thi Vũ, một tên tuổi mà khi đọc bài của ông tôi thường thích dừng lại nhẩn nha giữa những giòng chữ. Những tác phẩm của ông mang theo sự sáng láng của trí tuệ, của tư tưởng. Ông chơi chữ trí thức, sành điệu, cao đẳng văn chương.

Nhưng có lẽ điều tôi ngưỡng mộ Thi Vũ chính là sự đóng góp của ông vào công cuộc tranh đấu Nhân Quyền Cho Việt Nam trong hơn ba mươi năm qua ở hải ngoại. Không ai xứng đáng mang danh hiệu lãnh tụ tranh đấu Nhân Quyền đại diện cho người Việt Hải Ngoại hơn nhà Nhân Quyền Thi Vũ. Dù hơi bị hạn chế tôn giáo tí xíu, nhưng tư cách trí thức và uy tín quốc tế của ông có một không hai. Với sự ngưỡng mộ đặc biệt dành cho nhà thơ Thi Vũ, tôi đang xúc tiến để làm một cuộc phỏng vấn ông. Và tôi rất vui khi được ông nhận lời cho cuộc phỏng vấn của gio-o

Lê Thị Huệ




Thi Vũ

Ngày Xuân đọc thơ Thiền



Thực ra không có một dòng thơ riêng biệt gọi là thơ Thiền. Nhưng có thể khẳng định bài thơ nào kêu gọi tới chữ thiền, sử dụng từ thiền sư đều không phải thơ thiền, ngoài sự cố công buột kết, tấn phong.

Xưa nay người ta thường liệt các bài thơ do các vị sư trước tác là thơ thiền. Sư được hiểu như các nhà tu Phật giáo, cạo đầu, mặc áo già, xa lánh trần tục bon chen. Theo hướng đó, thơ thiền nhan nhản các hình ảnh đơn điệu của trúc, suối, bóng sáng tinh khôi, chim hạc bay tà tà nơi cõi xuất thế gian. Tạo hàm oan cho thơ thiền.

Từ 1963 lại đây, có lớp người quay sang làm thơ thiền. Họ để tóc, mặc áo veste, quần jean. Thiền không xuất thế nữa. Thiền nhập thế. Nhập vào quán rượu, la cà từ hộp đêm này tới quán cóc kia. Nhậu la de, lăn lộn trên thân thể đàn bà. Quằn quại bằng tư duy trong cuộc sống khá an nhàn, sung mãn. Nếu còn mang hình thái sư, thì sư biết đánh đàn piano, cắm hoa hồng, vung tay viết chữ thảo hay tương tư em. Từ đó họ rót xuống những bài thơ khi khinh bạc, khi cao cả, oai phong, khi lãng mạn anh em - nhưng rất thiền. Người làm thơ ốp bóng vào hình ảnh thời thượng thiền sư. Khác chi những năm 1940, người làm thơ là tráng sĩ. Những năm xã hội chủ nghĩa, người làm thơ là liệt sĩ, viên chức bộ công an, nếu không là công nhân nấu thép (Nay ở trong thơ nên có thép – “Bác”). Thêm một hàm oan khác. Cho thơ thiền.

Thực ra không có dòng thơ riêng biệt nào gọi là thơ Thiền. Chỉ có những tấm lòng thiền đọc thơ. Cho nên phải có một tấm lòng thiền, thơ thiền mới xuất hiện.

Thiền là sự phá vỡ u tâm tù ngục, chung hòa vào thực tại đời sống vốn siêu việt hết thảy ý niệm và danh từ[1]. Đặc tính của thiền là thích hợp, đặc sắc của thiền là linh hoạt. Chấm dứt thác loạn trong ý nghĩ, trong tâm tưởng và ngôn ngữ, thơ thiền tuôn như khe suối mát giữa lá rừng và chiều nắng, như lời nói ôn tồn giữa chợ búa tranh đua. Phá mở mọi xiềng xích : tự do vô hạn chính là thiền. Cái « tôi » vỡ ra, căng lên thành thế giới diệu hữu, thành khoảng không lồng lộng vũ trụ. Cái « tôi » dài thành trăm tay sờ mó những tương quan nó với cái khác, kẻ khác. Liên hệ tương duyên lập thành hợp thể vui hòa, an lạc. Ở đó, nó tự do.

Thiếu hiểu biết căn bản về lý sống đạo Phật và thiền, cái nhìn bị méo lệch, phân đôi thành xuất thế và nhập thế khi đánh giá các bài thơ tự gọi là thơ thiền. Thực tại vốn không phân hai. Bị phân hai vì ý niệm đánh giá. Nên cái-ta-nghĩ với cái-ta-được-cảm-nhận khác nhau dị kỳ, ly lìa thực tại tối hậu. Một hôm Tô Đông Pha, thi hào đời Tống, đọc hai câu thơ của Vương An Thạch :

Minh nguyệt đương không khiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa tâm
nghĩa là :
Minh Nguyệt kêu giữa trời
Hoàng khuyển nằm trong hoa

Tô Đông Pha thấy hay vì hình ảnh và âm điệu, nhưng cho là chối nghĩa bèn sửa lại :

Minh Nguyệt đương không chiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa âm
nghĩa là :
Trăng sáng soi giữa trời
Chó vàng dưới bóng hoa

Thơ vẫn hay nhưng thường, không độc đáo. Vương An Thạch bực nhưng không nói. Vương phái Tô Đông Pha, là quan đại phu, đi sứ Hoàng Châu. Tới nơi, Tô mới biết ở đây có loài chim chỉ hót khi trăng lên, và một loài sâu ưa nằm giữa lòng hoa. Người địa phương gọi là chim minh nguyệt và sâu hoàng khuyển.

Sau bài học rút từ thực tại không hai ấy, Tô Đông Pha bẻ gãy sợi xích xiềng cố tín và ngu muội. Ông phơi phới sống cõi thơ tuyệt diễm. Cõi thơ ấy cũng là cuộc đời ông sống. Phơi phới và phiêu nhiên. Phải chăng cuộc sống mới đã lộ rõ vào bài thơ Lô sơn của ông ? Thơ man mác như nhiên, thâm trầm ý vị của kẻ đã chứng và đã ngộ :

Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều
Vị đáo sanh bình hận bất tiêu
Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự
Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều
Trúc Thiên dịch :
Khói ngút non Lô sóng Chiết giang
Khi chưa đến đó luống mơ màng
Đến rồi hóa vẫn không gì khác
Khói ngút non Lô sóng Chiết giang

Bài thơ bốn câu, mà hai câu đã lập lại nơi câu mở đầu và câu kết : Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều. Tuy lập ngữ nhưng không lập ý. Bởi chưng con người ở câu một khác với con người ở câu bốn qua quá trình thực chứng. Con người hạ sinh nơi câu một hóa sinh sang câu bốn thành niềm thong dong, phiếu diễu, chủ ngự cõi phù sinh. Núi không còn danh thốt lên khi mắt va chạm tảng đất sững dựng che trời. Núi lột kéo tấm màn che mắt. Mắt thấy điều trước kia mình chỉ biết nhìn. Hơn thế, núi cũng biết nhìn bằng hiện hữu mình trên bình nguyên trải hút cõi nhân sinh ra tới những tinh hà.

Giảng bài thơ Tô Đông Pha tưởng không gì bằng lời tự thuật của sư Thanh Nguyên Duy Tín viết trong Truyền đăng lục, quyển 22 : “Sãi tôi ba mươi năm trước khi chưa học Thiền, thấy núi là núi, thấy nước là nước. Sau nhân theo học bậc thiện tri thức chỉ cho chỗ vào, nên thấy núi chẳng phải núi, thấy nước chẳng phải nước. Rồi nay thể nhập chốn yên vui tịch tĩnh, thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước”. Cùng một sự vật, nhưng qua ba tâm cảnh đi từ mê muội, giác hóa đến giác ngộ nên cái bóng của sự vật được hiển lộ thành hình sự vật.

Tưởng như lẩm cẩm, nhưng là diễn trình chặng đường tri thức hay đạo tâm phải trải qua hầu gạt bỏ cuộc đời người ngợm. Mọi vĩ nhân trên mặt đất đều tôi luyện, thăng hoa cuộc đời như thế. Khổng Tử từng tâm sự : “Ta mười lăm tuổi để chí vào sự học, ba mươi tuổi thì trụ vững, bốn mươi thì hết ngờ, năm mươi biết mạng trời, sáu mươi nghe thuận tai, bảy mươi thì tùy lòng muốn mà vẫn không ra ngoài phép tắc”.

Quá trình chứng ngộ cần 70 năm để đạt cái tâm thiền. Nhưng 70 là con số. Không phải khuôn phép cố định. Có người sống trăm năm vẫn như con đỉa trong dĩa máu. Có người vài mươi tuổi đã có thể “tùy lòng muốn mà vẫn không ra ngoài phép tắc” vũ trụ. Bay như diều trên gió. Lội như hạt nước giữa lòng sông.

Đời làm chi có hai chuyện xuất thế, nhập thế ? Xuất về đâu ? Nhập vào đâu ? Sự sống âm ỉ, cường tráng, dữ dội, cuốn chìm hay nâng đỡ những tế bào nhân sinh. Cuốn chìm những tuổi mười lăm (dù đã bảy mươi) kênh kiệu, thác loạn, mê muội. Hoặc nâng đỡ những tuổi bảy-mươi-phi-thời an nhiên trên chốn gập ghềnh.

Xuất thế có chăng chỉ là thoát ly khỏi thế giới thác loạn, tranh chấp, vị kỷ, mê muội, vong thân. Xuất như thế là đã hào hùng, trang nghiêm nhập thế. Nên kẻ mang tâm thiền không xuất, không nhập, chẳng bận tâm sinh tử. Nhà sư tráng sĩ có tâm thiền đời Trần là Tuệ Trung Thượng sĩ trả lời bằng thơ khi có người hỏi lẽ sống chết :

Trường không túng sử song phi cố
Cự hải hà phong nhứt điểm âu
Thích Mật Thể dịch :
Ngại gì bọt nước sôi ngoài bể
Phỏng có vành xe liệng giữa trời

Hình ảnh, tứ thơ bạo và mới, vừa siêu thực vừa hiện thực. Vừa tỉ giảo, vừa nhận thức bằng thi tính. Sống chết không quan ngại, thì thịnh suy trong đời tỉ như kẻ làm vườn hái trái chín, trái ung. Chẳng áy náy nên thảnh thơi giữa chốn ba đào :

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô
Vạn Hạnh (thời Lý)
nghĩa là :
Thân như bóng chớp, có rồi không
Tới xuân cây trổ, sang thu rụng hồng
Nhác trông suy thịnh, lòng không sợ
Đầu cành, suy thịnh giọt như sương

Nhìn và đã thấy. Chất thơ ngào trộn tư duy. Cảnh thơ thành lý sống. Bài thơ thành món quà truyền tâm. Miêu tả thân xác như ánh, như chớp, mong manh thoáng hiện nhưng mãnh liệt trường tồn. Giữ lại gì nơi đôi mắt ngó vào không gian thăm thẳm mịt mù ? Nếu không là nét sấm chớp rạng ngời nơi nhúm nhíu khắc giây khiến thẫn thờ trời đất ? Mong manh mà trường cửu. Có đó rồi không đó. Không chẳng mang nghĩa hết, dứt. Không cái vừa có cho cái có được trọn vẹn trong cái không-tiêu-tán. Như cỏ cây mướt lục vào xuân, dù đã, hay sẽ, héo khô nơi chặng đường thu chớm. Những cái có, không, thịnh, suy, khác chi ngọn cỏ chòm cây nơi trò trốn bắt giữa hai mốc thu xuân ? Lòng không sợ hãi trước mọi bạo tàn, phụ bạc. Khi biết vòng tròn hương rực lửa quay trong đêm chỉ từ một đóm hương lúc tay quay ngừng lại. Sương cứ rơi đều đầu ngọn cỏ mỗi sáng, dù thất tình ta buồn hay vui. Ngở sương mất đi trong lòng đất, ai ngờ đã cất tự trời cao chờ rơi khi đêm tới.

Thơ dùng nhạc để chuyển lời. Dùng vần làm dây xuyên. Dùng hình ảnh bắt mắt. Dùng tình cảm níu tình. Thơ vẽ hình bắt bóng. Tác dựng suy tư làm xương sống cho hình hài. Thơ vạch đường chỉ nẻo. Thơ nắn nụ cười phơi phới trên môi ngôn ngữ.

Người có tâm thiền làm thơ là sống cái tự do trước những điều bức tử. Không rúng động trước thịnh suy, sinh tử. Bởi vậy bệnh hoạn khuấy phiền thân xác kia chẳng khiến lòng trăn trở, âu lo. Nhà thơ thiền Mãn Giác đời Lý có bài thơ nhắn gửi mọi người nhân lâm bệnh - Cáo tật thị chúng. Bài này nhiều người thuộc và thường được nhắc nhở, duy ít người chú ý mối vận hành ý tứ :

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
Ngô Tất Tố dịch :
Xuân trỗi trăm hoa rụng
Xuân tới trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai

Người đọc thường khen tính tích cực và lạc quan bài thơ của người nhuốm bệnh. Thế nhưng thơ đâu là bản báo cáo, trình bày quan điểm, lập trường ? Thơ không là sự nói lại. Thơ là sức sống bung từ người. Nhân việc mình đau mà báo với mọi người - Cáo tật thị chứng - nhưng thơ không rơi vào thể thuật hoài biểu diễn cái ta rất chi trọng thể. Tuy vẫn là cái ta khi ý thức còn trong trạng thái vong thức. Tả xuân và hoa, nhưng không là thơ sơn thủy nhắm riêng việc tả cảnh. Xuân và hoa ở đây là bước đi của thời gian trong không gian. Việc đời và người tả ở đây là xê dịch viễn hành của vô thường - cái không cố định. Bài thơ chấm dứt bằng nhận định làm con người thảng thốt trước mỗi đoạn trường : cái mình nhìn không là cái thấy. Dù cái thấy vẫn ở đó, như đóa mai kia nở sớm hay nở muộn nơi chốn chẳng hề chờ.

Suốt bài thơ sáu câu, nhịp hóa thân tăng trưởng vốn trí tuệ, từ thung lũng thường tục lên ngọn đỉnh rạng ngời. Thơ đưa nhạc và tình về với trí tuệ. Thơ thoát ly cảnh sống dung tục, hiển mình vào thực tại tối hậu, ở đó người bật mình sống dậy. Hết thụy miên. Hết mớ gọi. Thôi biệt ly.

Xuân khứ bách hoa lạc là nếp đi của một thực tại thấy mò qua bóng ảnh dung tục. Lòng ta có buồn thương chăng ? Xuân đáo bách hoa khai là cái đến của mùa màng nơi thực tại trầm luân. Lòng ta có vui rộn lên chăng ? Buồn hay vui chúng ta đều bị giới hạn trong không gian như một thực tại vô thường. Ý nghĩa của Sự trục nhãn tiền quá. Việc đời thoáng qua với bao điều bất như ý, ở đó thời gian chẳng để ta yên. Thời gian liên lỉ chất vấn như vị giám khảo, rồi đánh lên trán ta từng luống nhăn, bôi vào tóc từng nét phấn. Già, chết chợt hiện ra : Lão tòng đầu thượng lai.
Ta bi quan, hốt hoảng, ta cay đắng ngậm ngùi ? Bao là dấu hỏi đẩy ta vào đời như tống xuống địa ngục, xui ta hạ thủ theo cách thế giận đời. Nhưng người thơ có tâm thiền, như Mãn Giác, thì không. Ông đã có lời đáp tựa khúc hoan ca :
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai !

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết. Đêm qua sân trước một cành mai. Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận là nếp đi của một thực tại. Thực tại ở đây là thực tại tối hậu. Và Đình tiền tạc dạ nhất chi mai là cái đến thực tại, thực tại ở vị trí uyên nguyên. Hết là thực tại phiến diện nơi cõi trầm luân.

Đến hay đi đều là động tác. Khác ở hành trình. Đến hay đi trên hành trình vô minh, mê muội. Hay đến, đi trên quá trình an nhiên, giải thoát ? Nô lệ, tự do từ đó hiển ra. Kẻ tự do sống không mô típ. Mọi mô típ đều ràng buộc. Kẻ tự do sống bằng sáng tạo. Người nô lệ sống mòn theo khuôn. Hai câu thơ của nhà thơ có tâm thiền Quảng Nghiêm ở thế kỷ XII đời Lý gợi lên ý đó :

Nam nhi tự hữu xung thiên khí
Hưu hướng Như Lai hành xứ hành Ngô Tất Tố dịch :
Tài trai có chí xông trời thẳm
Dẫm vết Như Lai uổng nhọc mình

Không nên hiểu theo nghĩa đen thường tục để gán cho nhà thơ mang tư tưởng hoài nghi hay phủ nhận đạo Phật hoặc chống báng đức Phật - Như Lai. Hào khí dũng mãnh kẻ trượng phu kiệt hiệt, người phá chấp siêu quần mới hiểu ý thơ Quảng Nghiêm. Còn yêu đương thần tượng, khuôn phò đảng kỷ, lý luận theo chỉ thị… khó nắm bắt sức sống vỡ bờ nơi dòng thiền vô biên phật giáo : khai phóng, sáng tạo và như thật.

Bao lâu còn cột dính, bấy lâu còn nô lệ. Chân sau theo vết trước dành cho việc đi săn hay loài cừu. Con đường đâu phải dấu mòn ? Con đường là chân bước và đích đến. Mỗi người làm chuyện mình theo cách mình để giải thoát mình. Chính là giải thoát, chứ không là cách thế. Bởi vậy đâu cần theo vết Như Lai như trong thơ Quảng Nghiêm. Ý thơ này chống cố tín, cuồng tín, giáo điều, chống tinh thần nô lệ. Vũ khí phá chấp của nguyên lý sống Phật giáo.

Thiền vượt mọi giả danh để sống thực. Mắt quay vào đâu sự vật được soi sáng, tình cảm được trân ái. Thơ thiền không chỉ là kệ truyền pháp hay dòng thơ đạo lý. Thơ thiền bát ngát lung linh qua mọi sinh hoạt theo tấm lòng thiền rung cảm.

Lê Qúy Đôn đọc thơ Huyền Quang, vị tổ thứ ba của dòng thiền Trúc lâm Yên tử, phái thiền thứ ba của Việt Nam , chê rằng “hình như không phải khẩu khí của thiền sư” (Thiền dật, Kiến văn tiểu lục). Nhà phê bình Lý Tử Tấn, đời Lê, đọc các bài Xuân nhật tức sự của Huyền Quang, Tảo mai, Xuân cảnh, Nhị nguyệt thập nhất dạ của vua Trần Nhân Tông, vị tổ khai sáng dòng thiền Việt Nam, Trúc Lâm Yên tử, cũng phê bình tương tự : Thi tuy giai phi tăng gia ngữ (thơ tuy hay nhưng không còn khẩu khí nhà sư).

Sao vậy ? Có lẽ người chưa sống thiền thích phân biệt. Đọc thơ, hay làm thơ, họ nhắm vào đích, vào lý tưởng, đạo đức, luân lý cố hữu làm chuẩn. Họ không nhìn sự vật như sự vật trong hiện tiền trước mắt. Đôi mắt và tâm tư họ bị nghĩa lý cố định thui chột sức sáng tạo. Cái thấy bị mù lúc trông nhìn. Không thấy, họ đem tâm so sánh nên phân hai thực tại, xa rời và cách ly khỏi thực tại. Ai có thể chỉ bộ phận nào đẹp trên một Người Đẹp ? Cắt bộ phận ấy ra còn chăng cái đẹp ? Hóa ra đẹp là cái toàn thể tương liên. Người làm thơ thiền diễn thơ cái hiện tại, cái cảm nhận, cái thấy. Họ không dại đem sự kiện nhất thời đang chuyển biến ấy đánh giá hay so sánh với giáo lý hầu đưa tới kết luận mô phạm. Đây là chỗ khác giữa thơ của người có tâm thiền với thơ một ông giáo học. Cái thoáng chớp, cái đang đi, cái tại thế ấy đã là cái vĩnh hằng trong thơ, không bắt gặp lại lần hai. Đòi hỏi hay ước mơ cố tín chỉ là ảo giác. Đa số các nhà Nho xưa và nhà Mác-xít nay đều bị tha hóa khi làm thơ.

Ta thử đọc bài Xuân nhật tức sự của Huyền Quang mà hai nhà phê bình Lê Quý Đôn và Lý Tử Tấn phê phán trên kia :

Nhị bát giai nhân thích tú trì
Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly
Khả lân vô hạn thương xuân ý
Tận tại đình châm bất ngữ thì
nghĩa là :
Giai nhân mười sáu ngồi thêu gấm
Hoa tử kinh bừng rộn tiếng oanh
Đáng yêu vô hạn thương xuân ý
Khi lặng thinh ngừng đưa mũi kim

Hai nhà phê bình chê thiếu “khẩu khí thiền sư” vì tả chuyện giai nhân ? Tả hoa, tả bướm, núi, suối, mùa màng, tiên, bụt… thì được. Động tới đàn bà là… Là gì ? Sao đàn ông hồ thỉ, phóng khoáng, bay bướm, trượng phu, anh hùng, liệt sĩ… bao nhiêu, lại khe khắt bấy nhiêu khi nói chuyện đàn bà ? Một hành xử lạ lùng đối với phụ nữ - mẹ của thế gian. Khổng giáo chăng ? Mặc cảm tội lỗi nơi vườn địa đàng chăng ? Dù gì thì gì, tính bình đẳng đã mất khi nhìn sự vật. Huống chi giai nhân trong bài thơ chỉ là hình ảnh mà thất tình chưa va chạm !

Đâu là chỗ “khẩu khí thiền sư” mất đi ở bài thơ trên ? Chiếc máy ảnh có khẩu khí chăng ? Máy rà quay và thu ghi. Người thi sĩ, ngoài cái nhìn và sự thu ghi còn thở phà chất sống vào sự vật khiến lung linh hơn cảnh thật. Điểm quan yếu của bài thơ không chỉ là giai nhân, mà cái người thơ thấy được nụ cười giữa sấm chớp, sự lặng thinh giữa trống chiêng. Hoa tử kinh rộ nở, hương sắc bồn chồn khiến hoàng oanh rộn rã líu lo. Lúc đó xuân đến. Người đẹp dừng kim, tác động trọng đại giữa hai thời biến dịch, lúc giao mùa, khi mê chuyển sang ngộ. Đón xuân ý bao la, vô hạn trên bến không-thời. Một bong bóng nước vừa nổ, òa vào hư không xanh. Tan biến nhưng cũng là giải thoát. Lột tả cảnh ngộ này chỉ biết cậy nhờ vô ngôn. Dù vô ngôn tập đại thành muôn nghìn xướng ngôn trước đó - trái chín sau những mùa hoa kết tụ.

Ý móng dậy từ cảnh xuân. Ý đem người về đâu ? Về mộng tưởng, vọng tưởng, ảo tưởng hay biến hóa vào chốn không lời : Vô ngôn, để sự vật tự nhiên biểu hiện ? Giai nhân, hoa tử kinh, tiếng oanh hót là những bóng hình xuân, tức ý xuân dậy ở câu ba. Nhưng rồi mọi khái niệm xả bỏ nơi vô ngôn ở câu bốn. Vô ngôn là tiếng nói của tư tưởng, thể hiện trong thơ bằng mũi kim ngừng, bằng làn môi không nói. Cùng một sự xuân, mà hoa khoe sắc, chim líu lo, nhưng giai nhân lại im môi. Đây là chỗ diệu kỳ của thơ.

Tuy nhiên điều cần đính chính là bài thơ trên không phải của sư Huyền Quang, đệ tam tổ dòng thiền Trúc Lâm của Việt Nam . Dù được nhà bác học Lê Quý Đôn và nhà phê bình Lý Tử Tấn đời Lê, hay bộ Việt Âm thi tập của Phan Phu Tiên nhắc tới như thơ của sư Huyền Quang. Thực tế bài trên là của thiền sư Ảo Đường Trung Nhân trước tác, người Trung quốc ở đời Tống. Bài thơ này được học trò của thiền sư là thiền sư Lôi Am Chính Thọ ghi lại trong bộ Gia Thái Phổ Đăng lục. Nhân một hôm thượng đường nói về con chó có Phật tính hay không mà Ảo Đường Trung Nhân phát ra bài thơ ghi dưới tên “Vô Đề”, chứ không phải là “Xuân Nhật tức sự”.

Phải chăng sư Huyền Quang nhắc tới bài thơ Vô Đề, trước tác bên Tàu một trăm năm trước, qua những lần thuyết pháp, giảng thiền, nên sau này đệ tử sao chép tưởng là thơ của thầy mình. Rồi văn học sử Việt Nam cứ lầm lẫn chép theo.

Nhưng đây chỉ là vấn đề xuất xứ văn bản. Chứ đi vào ý thơ, thì Huyền Quang hay Ảo Đường Trung Nhân, thơ vẫn là thơ của người có tâm thiền.

Nhờ có tâm thiền nên không phân biệt, trân trọng và bình đẳng với mọi sự mọi vật. Đa số thơ Việt Nam thời trung đại thường vắng bóng người phụ nữ. Bài trên đã tưởng là của sư Huyền Quang để khẳng định sự bình đẳng giới tính. Song không vì vậy mà thơ Lý Trần thiếu đi. Người thơ có tâm thiền như vua Trần Nhân Tông, cũng là nhà sư và Tổ thứ nhất của dòng thiền Trúc Lâm, không quên thân phận người phụ nữ trong bài “Khuê oán” :

Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng
Hoàng ly bất ngữ oán đông phong
Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại
Hoa ảnh chi đầu tận hướng đông
nghĩa là :
Thức mình cuốn cửa ngắm cành hồng
Biếng hót oanh buồn oán gió đông
Lầu tây chiều xuống buông hờ hững
Bóng hoa cành ngọn lả phương hồng

Nỗi oán hận buồn thương của người ở phòng khuê thật man mác. Những phi tần không được vua sủng ái. Họ sống bằng nỗi trông chờ như bóng hoa đầu cành hướng phía mặt trời. Thơ bật lên nỗi oán, mà cũng là mối bi thương liên đới của người làm thơ. Nếu chưa tri kỷ, cũng đã tương liên với nỗi khổ con người và là người phụ nữ.

Bao lâu còn những tấm lòng thiền, thơ thiền còn chan chứa. Thơ thiền không giới hạn, trùng trùng như hoa xuân, như rừng lá, như sóng dội. Ta hãy đọc thơ trong cái toàn thể, qua niềm gợi hứng, giữa các mối tương liên. Đừng lo lý giải, tách bạch nghĩa ý. Ta hiểu gì cái đẹp một màu lá, đóa hoa. Ta hiểu gì nét mặt một con người.

Đọc thơ thiền như kẻ vào rừng phong lan. Lúc về quần áo đẫm hương, người lâng lâng, lòng thênh thái. Cần chi tách bạch một làn hương, hái hoa thành bó. Khiến người có tâm thiền như sư Huyền Quang cười ta từ bảy thế kỷ trước :

Kham tiếu bất minh hoa diệu xứ
Mãn đầu tùy đáo tháp qui lai
nghĩa là :
Cười ai không rõ hoa mầu nhiệm
Hái giắt đầy đầu trở lại nhà.

Những gì ngắt đi từ sự sống, sự sống sẽ mất.

Thi Vũ
Paris, 1.1.1988,
bổ chính Mồng Một Tết Kỷ Sửu 2009

[1] Ngôn ngữ đạo đoạn tâm hành xứ diệt.

Thi Vũ là bút hiệu của nhà tranh đấu Nhân Quyền Võ Văn Ái. Ông chủ trương tạp chí Quê Mẹ ở Paris từ năm 1977 đến nay

http://www.gio-o.com/ThiVu.html

© gio-o.com 2009

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2009

Thư Mời dự Hội thảo Hiện Tình GHPGVNTN

Xin click vào thư mời để làm thư lớn cho dể đọc

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2009

ĐẦU XUÂN, ĐƯỢC QUÀ LÌ XÌ CỦA ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỘ

ĐẦU XUÂN, ĐƯỢC QUÀ LÌ XÌ CỦA ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỘ
Nhà văn Hoàng Tiến
Năm nay các cụ viết đại tự chữ Hán (thường gọi viết thư pháp) cho bà con chơi Tết được quy tụ tại Văn Miếu. Nhóm Cảo thơm thư hiên của chúng tôi cũng được mời tới đó, chiếm một gian có mái lợp vải nilon, khung bằng ống nước kẽm, dựa lưng vào bức tường gạch cổ Quốc Tử Giám, nhìn ra đường phố đông đúc người qua lại.
Đang trao đổi với các cụ thì nhận được điện thoại của cháu Hà con gái trưởng cụ Hoàng Minh Chính nhắn đến nhà bà Hoàng Minh Chính ngay có việc gấp. Tôi xin phép các cụ, hòa vào dòng người nườm nượp trên đường phố đi sắm Tết.
Thật bất ngờ! Tôi được gặp vị sứ giả của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ là Hòa thượng Thích Không Tánh từ Sài Gòn ra, sáng nay cùng gia đình tới nghĩa trang Thanh Tước bên kia sông Hồng, làm lễ đón cụ Hoàng Minh Chính về nhà ăn Tết, và chiều nay trước khi vào Sài Gòn muốn gặp gỡ một số anh chị em dân chủ và dân oan, gửi lời chúc Tết cùng biếu quà lì xì đầu xuân của Đại lão Hòa thượng.
Tíu tít hỏi thăm sức khỏe của Đại lão Hòa thượng, được biết ngài vẫn khỏe, lòng tôi rất mừng và cảm thấy một niềm an lạc tràn ngập khắp người.
Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, tấm gương vô úy của vị cao tăng trước sự đàn áp khốc liệt của công an theo lệnh Đảng và Nhà nước, đã cổ vũ nâng đỡ chúng tôi rất nhiều trong công việc đấu tranh dân chủ gian khổ ở nước nhà. Ngài là biểu tượng hiện hữu của đại lực, đại hùng, đại trí theo kinh Phật dạy.
Tôi vẫn còn nhớ như in những lời ngài viết trong "Thư Chúc Xuân 2005": "Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và trong cương vị tăng sĩ, chúng tôi không làm chính trị, không tham gia chính trị. Nhưng chúng tôi phải có thái độ chính trị. Thái độ này thể hiện giáo lý nền tảng của đạo Phật, là cứu chúng sinh ra khỏi mọi ách nạn, khổ đau để tạo điều kiện giác ngộ." (Thư chúc xuân, trang 2)Đại lão Hòa thượng nhận định:
"70 năm thử nghiệm ý thức hệ Mác Lê không đem lại cho nhân sinh tự do và no ấm, nên đầu thập kỷ 90, Liên Xô và toàn bộ phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, chấm dứt chiến tranh lạnh phân đôi thế giới." (Thư chúc xuân, trang 1)
Về con đường thoát khỏi khó khăn chồng chất của Việt Nam, ngài viết:
"Chúng tôi suy nghĩ từ bản thân qua hàng chục năm lưu đầy, tù ngục và quản chế, thì thấy không còn con đường nào khác ngoài con đường dân chủ đa nguyên để tái thiết đất nước."
(Thư chúc xuân, trang 2)
Những lời nói phải như vậy, tiếc rằng lãnh đạo Đảng và Nhà nước không chịu nghe. Dân gian có câu thành ngữ: "Nói phải củ cải cũng nghe". Thật là đáng tiếc!Tình hình đất nước năm vừa rồi gặp nhiều khó khăn. Hết hạn hán lại lụt ngập. Tiền tệ lạm phát tới hai con số. Chống tham nhũng thất bại với sự kết thúc vụ án PMU 18, miễn tố thứ trưởng Giao thông Vận tải, khởi tố ngược lại một tướng một tá công an cùng hai nhà báo. Vụ Lê Đức Anh ầm ĩ trước Đại hội Đảng 10 là thế, nay cũng bị cho chìm xuồng, kết thúc ở việc chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trao huy hiệu 70 năm tuổi Đảng cho ông ta. Vụ Thái Hà và tòa Khâm sứ giải quyết cách cửa quyền một phía, không thấu tình đạt lý. Giáo dân Thái Hà chưa tâm phục khẩu phục, vẫn chống án. Những vụ án mở ra thật to lớn như đầu con voi châu Phi, mà kết thúc thì teo lại, bé tý như đuôi con chuột nhắt xó bếp. Dư luận chịu một quả lừa to lớn không thể nào ngờ, giống như một cuộc đá banh, quả bóng bất ngờ từ gôn bên này bay thẳng vào gôn bên kia.Nhưng cái nguy hiểm nhất lại là sức ép từ phương Bắc. Trung Quốc bành trướng lấn chiếm đất đai, biển cả, hải đảo của Việt Nam. Phía ta cứ nhân nhượng chịu lùi, hết ký Hiệp định biên giới 1999, đến ký Hiệp định lãnh hải 2000, rồi Trung Quốc xây dựng và khai thác dầu mỏ ở Hoàng Sa, rồi Trung quốc lấn chiếm Trường Sa và cuối năm vừa rồi tuyên bố hai quần đảo này thuộc huyện Tam Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam, Trung Quốc. Tàu chiến Trung Quốc tuần tiễu trên biển Đông mang theo tên lửa. Trung Quốc bỏ ra 29 tỷ USD thăm dò khai thác biển Đông. Ngang nhiên như vậy, mà bên ta chỉ dám phản đối yếu ớt ở cấp độ người phát ngôn Bộ Ngoại giao thôi.Nhưng cái đau lòng nhất lại là chuyện thanh niên sinh viên muốn bộc lộ lòng yêu nước bằng cách tụ tập phản đối trước đại sứ quán Trung Quốc ở Hà nội, lãnh sự quán Trung Quốc ở Sài Gòn, đều bị công an Việt Nam giải tán, ngăn cản, đe dọa.Thổi bùng ngọn lửa yêu nước trong toàn dân là một việc cực kỳ cần thiết triều đại nào cũng phải làm. Đất nước chúng ta tồn tại được 4.000 năm cũng chỉ nhờ lòng yêu nước mà thôi. Hãy thử tưởng tượng, nếu mọi người Việt Nam bây giờ đều lãnh đạm, thờ ơ với chuyện đất đai, sông ngòi, biển cả, ai muốn lấn chiếm cũng được, ma-kê-nô, thì chẳng khác gì cảnh nhà cháy mà con cháu cứ ngồi nhâm nhi cà phê, hát karaokê, ngắm các cuộc thi hoa hậu và nhảy múa sập sình.Năm mới, tôi buộc lòng phải nói với các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các vị đang nắm quyền lực trong tay, các vị không sợ ai, ai nói gì trái ý, các vị có thể bắt bớ bỏ tù, để tỏ cái uy quyền của mình. Nhưng các vị cũng nên biết sợ lịch sử, biết sợ hậu thế. Lịch sử và hậu thế sẽ rất nghiêm khắc và công bằng.Sử sách có ghi chuyện vua Lê Thánh tông được tin người nhà Minh (Trung Quốc) đem quân đi khảo sát địa giới, Thánh tông liền cho người lên do thám thực hư. Ngài bàn với triều thần rằng: "Ta phải giữ gìn cho cẩn thận đừng để cho ai lấy mất một phân núi, một tấc sông, là có tội với tổ tiên, có tội với vua Thái tổ." Ngài có lòng vì nước như thế, cho nên dẫu nước Tàu có ý muốn dòm ngó, cũng không dám làm gì. (Việt Nam sử lược. Trần Trọng Kim. Trang 250)Lòng yêu nước được nhen nhúm từ lịch sử. Ai là người Việt Nam hẳn đều biết chuyện Hai Bà Trưng. Đại Nam quốc sử diễn ca của Phạm Đình Toái và Lê Ngô Cát ghi:Bà Trưng quê ở Châu Phong Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quênChị em nặng một lời nguyềnPhất cờ nương tử thay quyền tướng quânHồ Tây nổi áng phong trần Ầm ầm binh mã tới gần Long BiênHồng quần nhẹ bước chinh yênĐuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thànhĐô kỳ đóng cõi Mê LinhNước Nam riêng một triều đình nước ta…Cuộc khởi nghĩa đầu tiên giành độc lập tự do cho đất nước chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất (từ năm 111 trước CN đến năm 39 sau CN) lại rơi vào tay hai người đàn bà. Chuyện thật thần kỳ, xảy ra vào thế kỷ thứ nhất những năm 40 – 43 sau Thiên Chúa giáng sinh.Anh hùng giải phóng nước Pháp là Jeanne d' Arc hiện hữu sau Hai Bà Trưng ta 15 thế kỷ (1429 – 1431), cũng là một người đàn bà, đúng ra là một cô gái 19 tuổi. Được nhân dân Pháp và thế giới ca ngợi là thần kỳ. Rồi được phong thánh năm 1920.Ngọn lửa yêu nước của Hai Bà Trưng truyền mãi cho đến ngày nay. Qua mỗi thời kỳ nó mang thêm dấu ấn của các thời đại, nhưng chất men yêu nước vẫn y nguyên, vẫn bốc cháy rừng rực không thuyên giảm. Thế hệ chút chít ở thế kỷ 20, vẫn say đắm hình tượng Hai Bà Trưng, để trào ra ngọn bút những vần thơ hào sảng:Ải Bắc quân thù kinh vó ngựaGiáp vàng khăn trở lạnh đầu voiChàng ơi! Điện ngọc bơ vơ quáTrăng chếch ngôi trời, bóng lẻ soi.Ngân Giang nữ sĩCuộc khởi nghĩa trúc chẻ ngói tan của Hai Bà đoạt liền một mạch 65 thành trì, khiến quân Tàu chạy về Ải Bắc rồi mà đôi chân vẫn còn run rẩy, nghe tiếng vó ngựa lại bạt vía kinh hồn. Chiến thắng oai hùng làm sao! Ba câu dưới mang đậm dấu ấn của nữ giới thời tự lực văn đoàn thế kỷ 20, và Ngân Giang nữ sĩ là người có công đầu tiên phát hiện ra nỗi đau mất mát của các bậc anh hùng. Vĩ nhân không phải chỉ được hoan hô rầm trời, đứng hiên ngang vẫy tay trước công chúng, mà họ có những nỗi đau tâm khảm ít ai nhìn thấy.Nghe nói, giảng đoạn thơ này của Ngân Giang nữ sĩ cho sinh viên văn khoa Sài Gòn, thầy giáo Đông Hồ rất xúc động. Sinh viên đề nghị thầy ngâm. Thầy ngâm to, rất truyền cảm, rồi ngất luôn. Đưa được vào bệnh viện thì thầy mất. Để lại một tình cảm xót thương trong sinh viên, và trở thành một giai thoại đẹp trong công việc giảng dạy truyền tiếp ngọn lửa yêu nước cho giới trẻ.Nuôi lòng yêu nước cho mọi người là công việc rất hệ trọng của mọi thời đại. Bây giờ, có thể nói, ai làm nhụt nhuệ khí yêu nước của người Việt Nam, là có tội với dân tộc Việt Nam.Mùa xuân năm con trâu Kỷ Sửu đã đến dự báo nỗi vất vả cực nhọc của thân phận trâu cầy. Kinh tế thế giới khủng hoảng vẫn tiếp diễn. Chiến tranh cục bộ đã xảy ra và có thể còn xảy ra. Trái đất nóng dần lên. Hiện tượng băng tan ở hai cực. Những nước giáp biển như nước ta, giả dụ nước biển dâng lên hai mét thì bao nhiêu đồng ruộng nhà cửa chìm trong nước? Rồi nạn khủng bố quốc tế. Rồi nạn tham nhũng Việt Nam. Lạm phát đe dọa. Dân oan khiếu kiện. Báo chí bịt miệng. Bất đồng chính kiến bị đàn áp. Tự do tôn giáo bị vi phạm. Nhất là sức ép của Trung Quốc. Sự bành trướng của họ về biên giới, về lãnh hải và các hải đảo của ta.Thấy tình hình như vậy mà lo nhiều hơn vui.Theo Kinh Dịch thì cùng tắc biến, biến tắc thông. Sự việc bế tắc đến đâu, rồi cũng có cách giải quyết. Các bậc minh quân sẽ nảy sinh trong đám rối rắm bế tắc này. Tôi hy vọng như thế.Quà lộc tài (tiếng Quảng Đông lì xì) đầu xuân của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ màu giấy đỏ, nhưng lại làm tôi liên tưởng đến nhành mai trắng trong thơ của Mãn Giác thiền sư đời Lý. Xin chép cả bài quý vị đọc Tết cho vui:Xuân khứ bách hoa lạcXuân đáo bách hoa khaiSự trục nhãn tiền quáLão tòng đầu thượng laiMạc vị xuân tàn hoa lạc tậnĐình tiền tạc dạ nhất chi mai.Chuyển dịch:Xuân đi trăm hoa rụngXuân đến trăm hoa cườiViệc đời qua trước mắtCái già trên đầu rồi!Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hếtĐêm qua, sân trước, một nhành mai.Tôi ôm nhành mai đó vào trong giấc ngủ.
Đất thiêng Thăng Long
Những ngày đầu xuân Kỷ Sửu – 2009
Nhà văn Hoàng Tiến
Địa chỉ : Nhà A11 Phòng 420Thanh Xuân Bắc – Hà Nội
THƯ CHÚC XUÂN
Kính gửi quí vị Nhân sĩ, Trí thức, Văn Nghệ sĩ, và Đồng bào trong và ngoài nước của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ
Dịp Tết Ất Dậu, 2005, Đại lão Hòa thượng viết Thư Chúc Xuân gửi quí vị Nhân sĩ, Trí thức, Văn Nghệ sĩ, và Đồng bào trong và ngoài nước gọi kêu sự kết liên cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam. Bức thư gây chấn động lòng người Nam Bắc, trong và ngoài nước thời gian ấy. Có thể nói Thư Chúc Xuân của Hòa thượng khai mở lần đầu sự thống hợp tình cảm dân tộc giữa hai miền Nam Bắc, mà chiến tranh, Hiệp định Genève, rồi chế độ Công sản phi nhân đào sâu hố chia rẽ tưởng không bao giờ hàn gắn.Thư Chúc Xuân đạo đạt mối ưu tư thâm thiết đến cộng đồng Sĩ phu đất Việt, mà hai lý do được Hòa thượng nêu rõ : “Mấy chục năm nay, tôi và hàng giáo phẩm Giáo hội lâm cảnh tù đày, rồi quản chế khắc khe, nên đã không còn hoàn cảnh thuận duyên, thư thái và tự do như trước năm 1975, để thuận hòa trong truyền thống thăm hỏi chúc Xuân chư liệt vị Nhân sĩ, Trí thức, Văn Nghệ sĩ cùng Đồng bào trong và ngoài nước” (...)“Lịch sử nước ta trải dài nhiều nghìn năm cho thấy sĩ phu là giới hiểu thời vụ, nhờ hiểu thời vụ mà ra tay chuyển hóa thời đại làm cho quê hương thoát cơn luân hiểm, sinh dân được an lạc”.Thư Chúc Xuân là lời tha thiết mời gọi cộng đồng Sĩ phu dân tộc hãy ngồi lại quanh một ý chí, quanh một giải pháp thay thế để “chặn ngăn các nẻo dữ, mở ra Đường lành trong năm Ất Dậu 2005”. Đường lành ấy là thế hiện nền dân chủ đa nguyên theo công sức của mỗi người. Ngồi lại quanh nhau, đoàn kết, liên minh không là điều mới mẻ. Bởi tiếng gào kêu “đoàn kết là sống, chia rẽ là chết” đã cất lên sáu mươi năm trước từ Xuân Ất Dậu 1945. Nhưng đoàn kết càng kêu gào, phân hóa càng cao, phân rẽ càng lắm, tranh chấp càng nhiều. Ấy chỉ vì, cho đến nay, các lời kêu gọi đoàn kết và liên minh thể hiện theo chiều dọc. Nghĩa là đoàn kết, liên minh sau lưng một cá nhân, một đoàn thể, một đảng phái. Chưa là đoàn kết, liên minh chung quanh một giải pháp thay thế, một kế sách thù ứng, một thần dược tối ưu giữa hàng chục, hàng trăm thần dược chưa thích nghi với tạng phủ Việt Nam. Nghĩa là đoàn kết, liên minh dân tộc trên chiến tuyến hàng ngang, chứ không là hàng dọc. Hàng ngang mới đồng đẳng và bình đẳng để cùng nhau bước vào tiến trình dân chủ hóa đất nước, như tổ tiên đất Việt sử dụng trong công trình hai nghìn năm dựng nước và giữ nước.Kế sách của Hòa thượng Thích Quảng Độ nằm trong tiêu ngữ Dân chủ đa nguyên : “Phải có dân chủ đa nguyên thì mới giải quyết mọi vấn nạn bế tắc từ ba mươi năm qua trên đất nước. Pháp nạn của Giáo hội chúng tôi cũng tùy thuộc công cuộc dân chủ hóa này để được giải trừ. Nó là giải pháp thay thế, mà muôn dân trông đợi”. Hòa thượng giải thích : “Lẽ giản dị là nhiều ý kiến vẫn hơn một ý niệm độc tôn, nhiều thành phần chính kiến, tôn giáo, xã hội, đồng tâm hiệp lực xây dựng quê hương, vẫn hơn một đảng phái độc quyền bao cấp quản lý”. Biết Nhà cầm quyền cộng sản rất húy kị ý niệm dân chủ đa nguyên, nên Hòa thượng ngỏ lời đề xuất : “Nhà nước Việt Nam không nên sợ hãi. Chỉ sợ mình không có chính nghĩa, không thật sự có tâm huyết với dân tộc thôi. Chứ sợ gì mất quyền. Đừng sợ nhiều đảng loạn quyền. Chỉ sợ dân trí bị kìm hãm trong chủ nghĩa ngu dân thôi. Mà đã ngu dân, thì một đảng cũng sinh loạn. Bối cảnh nước ta ngày nay, theo tôi, không cần có vài chục đảng mới thiết lập được dân chủ. Chỉ cần một đảng tả khuynh, một đảng hữu khuynh, một đảng trung hòa đại diện cho các dòng suy nghĩ chính lưu. Tuy nhiên việc này còn tùy thuộc ý nguyện của nhiều người”.Với lời đề nghị thực tiễn qua Thư Chúc Xuân như thế, phải chăng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất mở đầu cuộc tham gia chính trị ? Câu đáp đã được Hòa thượng minh định : “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và trong cương vị Tăng sĩ, chúng tôi không làm chính trị, không tham gia chính trị. Nhưng chúng tôi phải có thái độ chính trị. Thái độ này thể hiện giáo lý nền tảng của đạo Phật, là cứu chúng sinh ra khỏi mọi nạn ách, khổ đau để tạo điều kiện giác ngộ. Hẳn nhiên thái độ ấy tùy thuộc các chính sách của Nhà nước có phục vụ quảng đại quần chúng nhân dân hay không”. Hòa thượng nhấn mạnh thêm : “Tuy không làm chính trị, nhưng Giáo hội ủng hộ mọi nỗ lực chính trị nhằm bảo vệ đất nước, bảo vệ truyền thống văn minh nòi giống, âu lo cho mỗi con người được sống đời no ấm, tự do, được hưởng trọn các quyền ghi trong Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam tham gia ký kết tại LHQ từ năm 1982”. Trái lại, giới “nam nữ Cư sĩ Phật tử tại gia sống giữa xã hội có toàn quyền tham gia và đóng góp trên mọi lĩnh vực của đời sống như kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, chính trị, v.v... với tinh thần lợi tha bình đẳng”.Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin đăng lại nguyên văn Thư Chúc Xuân của Hòa thượng Thích Quảng Độ sau đây :

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤTVIỆN HÓA ĐẠO
Thanh Minh Thiền viện, 90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, T.P.
Saigon
Phật lịch 2551 Số 02/VHÐ/VTTHƯ CHÚC XUÂN
Kính gửi quí vị Nhân sĩ, Trí thức, Văn Nghệ sĩ, và Đồng bào trong và ngoài nước Thưa quí Liệt vị,
Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang vừa gửi Thông điệp Xuân Ất Dậu, dương lịch 2005, chúc mừng Chư Tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại Đức Tăng Ni, và toàn thể Phật tử các giới trong và ngoài nước.Phần tôi nhân dịp Xuân về, thay mặt Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, xin kính lời Chúc Xuân và Mừng Tuổi quí Liệt vị. Mấy chục năm nay, tôi và hàng giáo phẩm Giáo hội lâm cảnh tù đày, rồi quản chế khắc khe, nên đã không còn hoàn cảnh thuận duyên, thư thái và tự do như trước năm 1975, để thuận hòa trong truyền thống thăm hỏi chúc Xuân chư liệt vị Nhân sĩ, Trí thức, Văn Nghệ sĩ cùng Đồng bào trong và ngoài nước.Cầu chúc quí Liệt vị cùng bảo quyến một năm mới an lành, thành công như ý nguyện. Kèm theo lời Chúc Xuân, chúng tôi mong được nói lên đôi lời ưu tư tâm huyết về tiền đồ quê hương Việt. Người ta thường nói : đất có tuần, dân có vận. Vận nước tuần hoàn đi rồi lại lại. Sự tuần hoàn như thế xác định mọi sự trên thế giới đều chuyển biến, thay đổi không ngừng, chẳng có gì tồn tại vĩnh viễn. Đạo Phật chúng tôi gọi lẽ ấy là vô thường. Nhờ vô thường, mà con người có thể tham dự, như tác nhân, để chuyển hóa nghịch cảnh : hạnh phúc có thể tái tạo, tự do có thể thiết lập, nô lệ có thể chấm dứt. Cho nên kẻ sĩ phu theo thời mà thông biến. Lịch sử nước ta trải dài nhiều nghìn năm cho thấy sĩ phu là giới hiểu thời vụ, nhờ hiểu thời vụ mà ra tay chuyển hóa thời đại làm cho quê hương thoát cơn luân hiểm, sinh dân được an lạc.Sau cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc, các thế quyền đã thử nghiệm những phương thức xã hội khác nhau. Nhưng quảng đại nhân dân chưa no ấm, hạnh phúc. So với các nước láng giềng trong khu vực, thì nước Việt ngày càng tụt hậu. Làm sao đây ? Chúng tôi nghĩ rằng, xưa cũng như nay, đất nước phải cậy nhờ giới sĩ phu đảm đương trách nhiệm. Bảy mươi năm thử nghiệm ý thức hệ Mác-Lê không đem lại cho nhân sinh tự do và no ấm. Nên đầu thập kỷ 90, Liên Xô và toàn bộ phe Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, chấm dứt chiến tranh lạnh phân đôi thế giới.Nay ta nên làm gì ?Xu thế địa cầu ngày nay, khắp năm châu nổi lên ý lực hợp tác, chia sẻ, đối thoại, qua phong trào Toàn cầu hóa Kinh tế và Toàn cầu hóa Dân chủ.Chúng tôi suy nghĩ từ bản thân qua hàng chục năm lưu đày, tù ngục và quản chế, thì thấy không còn con đường nào khác ngoài con đường dân chủ đa nguyên để tái thiết đất nước. Lẽ giản dị là nhiều ý kiến vẫn hơn một ý niệm độc tôn, nhiều thành phần chính kiến, tôn giáo, xã hội, đồng tâm hiệp lực xây dựng quê hương, vẫn hơn một đảng phái độc quyền bao cấp quản lý.Nhận thức trên đây muốn thành hiện thực, đòi hỏi sự lên tiếng và tham gia của quí vị nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ cùng đồng bào cho tiến trình dân chủ hóa đất nước trong năm Ất Dậu này. Đầu năm 2001, chúng tôi đã có dịp đề xuất « Lời Kêu gọi cho Dân chủ Việt Nam » qua một chương trình 8 điểm. Vì Lời kêu gọi này chúng tôi bị quản chế hành chính hai năm. Hy vọng rằng, tình hình khách quan năm nay, quí vị sẽ có nhiều thuận duyên, may mắn hơn, khi cất tiếng kêu gọi và hoạt động cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam. Nên không còn chần chờ được nữa.Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và trong cương vị Tăng sĩ, chúng tôi không làm chính trị, không tham gia chính trị. Nhưng chúng tôi phải có thái độ chính trị. Thái độ này thể hiện giáo lý nền tảng của đạo Phật, là cứu chúng sinh ra khỏi mọi nạn ách, khổ đau để tạo điều kiện giác ngộ. Hẳn nhiên thái độ ấy tùy thuộc các chính sách của Nhà nước có phục vụ quảng đại quần chúng nhân dân hay không. Trong kinh sách Phật giáo, Đức Phật không làm chính trị, nhưng Ngài không ngừng cố vấn, khuyến thỉnh các vị vua phải có chính sách đúng đắn để phục vụ quần chúng. Ngài cũng có những lời khuyên bảo thích đáng cho quần chúng Phật tử về cung cách làm ăn kinh tế sao cho thu đạt lợi nhuận, gây cơ sở vật chất làm tiền đề cho sự phát triển đời sống tâm linh.Ở nước ta, các quốc sư Phật giáo dưới các triều Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê đã hành hoạt theo gương đức Phật. Gặp lúc biến, các thiền sư cũng tham gia chống ngoại xâm. Đuổi xong giặc, các ngài lại trở về nơi thiền viện lo việc an tâm và giáo hóa.Gần ba nghìn năm trước, Giáo hội Phật giáo được đức Phật thiết lập trên tứ chúng, bao gồm hai chúng nam nữ xuất gia gọi là tỳ kheo và tỳ kheo ni, và hai chúng tại gia nam nữ Cư sĩ Phật tử. Hai chúng nam nữ Tăng sĩ không tham gia chính trị. Nhưng hai chúng nam nữ Cư sĩ sống giữa xã hội có toàn quyền tham gia và đóng góp trên mọi lĩnh vực của đời sống như kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, chính trị, v.v...Tuy không làm chính trị, nhưng Giáo hội ủng hộ mọi nỗ lực chính trị nhằm bảo vệ đất nước, bảo vệ truyền thống văn minh nòi giống, âu lo cho mỗi con người được sống đời no ấm, tự do, được hưởng trọn các quyền ghi trong Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam tham gia ký kết tại LHQ từ năm 1982. Và cùng với sự hậu thuẫn tinh thần của Giáo hội, hàng nam nữ Cư sĩ Phật tử tại gia có thể trực tiếp đóng góp vào công cuộc chung với tinh thần lợi tha bình đẳng.Trong cuộc trả lời phỏng vấn Đài nước ngoài gần đây, tôi có ngỏ lời đề nghị Nhà nước Việt Nam không nên sợ hãi. Chỉ sợ mình không có chính nghĩa, không thật sự có tâm huyết với dân tộc thôi. Chứ sợ gì mất quyền. Đừng sợ có tự do, dân chủ là mình mất quyền. Không đâu. Người dân bây giờ tinh tường lắm. Ai có công, ai thật sự vì dân, vì nước, người ta biết. Hãy xem gương các Đảng cộng sản ở các nước Đông Âu cũ bây giờ đều chấp nhận đa đảng. Thế mà ở Ba Lan, Tiệp Khắc, v.v... dân chúng vẫn có người bỏ phiếu cho đảng Cộng sản, thì có mất gì đâu. Miễn là mọi đảng phái khác cũng được quyền tham dự để cho dân có cơ sở so sánh, lựa chọn, các đảng phái có cơ sở tranh đua phục vụ tổ quốc. Đừng sợ nhiều đảng loạn quyền. Chỉ sợ dân trí bị kìm hãm trong chủ nghĩa ngu dân thôi. Mà đã ngu dân, thì một đảng cũng sinh loạn. Bối cảnh nước ta ngày nay, theo tôi, không cần có vài chục đảng mới thiết lập được dân chủ. Chỉ cần một đảng tả khuynh, một đảng hữu khuynh, một đảng trung hòa đại diện cho các dòng suy nghĩ chính lưu. Tuy nhiên việc này còn tùy thuộc ý nguyện của nhiều người. Nhưng trái lại, phải có nhiều xã hội công dân tự do xuất hiện với mọi quyền con người cơ bản, ắt việc nước sẽ hanh thông, quốc gia sẽ thịnh trị. Điều kiện tiên quyết muốn được như vậy là phải có tự do, dân chủ thật sự để mỗi người và mọi thành phần xã hội được bình đẳng tham gia việc nước. Không sung sướng gì bằng, không hạnh phúc gì bằng, khi những người làm chính trị được chính người dân tin tưởng giao quyền cho.Đời sống nhân dân các nước dân chủ ở Bắc Âu là mô thức khá hoàn hảo về sự an lạc và tự do của người dân mà chúng ta có thể học hỏi, nghiên cứu, dung hóa, áp dụng vào bối cảnh Việt Nam.Phải có dân chủ đa nguyên thì mới giải quyết mọi vấn nạn bế tắc từ ba mươi năm qua trên đất nước. Pháp nạn của Giáo hội chúng tôi cũng tùy thuộc công cuộc dân chủ hóa này để được giải trừ.Nó là giải pháp thay thế, mà muôn dân trông đợi.Thử trầm tỉnh nghĩ xem, có phải là đảo chính bằng lá phiếu dân chủ vẫn hơn là những cuộc đảo chính bằng bạo loạn ?Sống trong cảnh huống ngày nay, người có lòng dạ và ưu tư đều bị đẩy vào tâm trạng chờ tức nước vỡ bờ. Thế thì sao không chọn con đường nhân nghĩa của truyền thống cha ông để nước chở thuyền thay vì nước lật thuyền ?Chẳng nên nghĩ rằng hễ có công an cho đông, nhà tù cho nhiều, và quân đội hùng mạnh là sẽ giữ được quyền bính mãi mãi. Chỗ dựa vững chắc nhất của một chế độ chính trị là lòng dân.Không là chính trị gia, chúng tôi chỉ có vài ý kiến thô thiển kêu gọi quý vị nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ và đồng bào là những người nhạy cảm với cuộc sống. Làm sao cho một cái gật đầu hay lắc đầu của lực lượng trí tuệ mang yếu tố quyết định thay đổi thời cơ.Xin quí vị hãy ra tay chặn ngăn các nẻo dữ, dóng lên tiếng chuông cảnh tỉnh, đánh lên hồi trống đại hùng khai mở Đường Lành trong năm Ất Dậu, 2005, này. Đường Lành ấy là con đường dân chủ đa nguyên đưa tới sự ổn định, phát triển và an lạc. An lạc cho quần chúng chỉ có ý nghĩa đích thực khi bảo đảm được quyền tự chủ quốc gia và những quyền tự do, dân chủ căn bản của toàn dân trong sinh hoạt cộng đồng thế giới.Làm sao cho xuân qua rồi mà hoa vẫn hàm tiếu, người đến bên cây rừng mà chim không kinh sợ bay xa : Xuân khứ hoa hoàn hạm, Nhân lai điểu bất kinh.Thư đã dài mà ý chưa hết. Chưa gửi đi nhưng lòng đà trông đợi. Xin chư Liệt vị nhận nơi đây lời Chúc Xuân chân thành và niềm hy vọng của tôi.
Phật lịch 2548 -
Thanh Minh Thiền viện
Saigon ngày giáp Tết Ất Dậu, 3.2.2005
Viện trưởng Viện Hóa Đạo,
GHPGVNTN
(ấn ký)
Sa môn Thích Quảng Độ

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2009

Lễ đón Giao Thừa tại Chùa Điều Ngự

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2009

Tin Tức

Mời qúy vị đọc Bản tin

AN LẠC Số 2

AN LẠC Số 1

Do Đoàn Phật-Tử AN LẠC PHỤNG SỰ ở Little Sàigon biên soạn

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2009

Tổng kết hoạt động năm 2008 của GHPGVNTN

Kính mời qúy vị coi :
Tổng kết hoạt động năm 2008 của GHPGVNTN
được link từ trang nhà Que Me

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2009

Đài Á Châu phỏng Vấn HT Thích Quãng Độ

Đại Lão Hòa Thượng Thích Quãng Độ trả lời
Phỏng Vấn của Phóng viên RFA Ỷ Lan

Thư cho TTK Liên Hiệp Quốc

Kính mời qúy đạo hữu đọc thư của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quãng Độ gởi ông TTK Liên Hiệp Quốc

BAN KI-MOON

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2009

DIỄN VĂN KHAI MẠC CỦA ĐOÀN TRƯỞNG ĐOÀN CỰU HUYNH TRƯỞNG

DIỄN VĂN KHAI MẠC CỦA ĐOÀN TRƯỞNG ĐOÀN CỰU HUYNH TRƯỞNG MIỀN VẠN HẠNH, NAM CALIFORNIA HOA KỲ
HTr Như Nhơn Nguyễn Tấn Phúc



Trước hết, chúng con xin đê đầu đảnh lễ Cố Đại Lão Hoà Thượng Đệ Tứ Tăng Thống, người đã hy sinh trọn đời cho Đạo Pháp, cùng đảnh Lễ Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ, Xử lý thường vụ Viện Tăng Thống- Viện Trưởng Viện Hoá Đạo- Đại Lảo Hoà Thuợng Thích Hộ Giác Phó Tăng Thống, Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTT/VPII/HĐ.Chúng con xin cung kính tri ân công đức quý HT/TT/ĐĐ thành viên của Văn Phòng II/VHD/GHPGVNTT.
Trước hết, chúng con xin đê đầu đảnh lễ Cố Đại Lão Hoà Thượng Đệ Tứ Tăng Thống, người đã hy sinh trọn đời cho Đạo Pháp, cùng đảnh Lễ Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ, Xử lý thường vụ Viện Tăng Thống- Viện Trưởng Viện Hoá Đạo- Đại Lảo Hoà Thuợng Thích Hộ Giác Phó Tăng Thống, Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTT/VPII/HĐ.Chúng con xin cung kính tri ân công đức quý HT/TT/ĐĐ thành viên của Văn Phòng II/VHD/GHPGVNTT.Kính Bạch Hoà Thượng Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên Gia Đình Phật Tử kiêm Trưởng Ban Hướng Dẫn Trung Ương Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Hoa Kỳ.Bạch Thầy!Qua sự gắn bó với GHPGVNTN suốt 4 đời Tăng Thống; GĐPT là một tổ chức nằm trong lòng giáo hội, là hàng ngũ trung kiên cùa giáo hội đã vượt qua các thời kỳ pháp nạn. Mục đich của GĐPT là GIÁO DỤC THANH THIẾU , ĐỒNG NIÊN TRỞ THÀNH NHỮNG PHẬT TỬ CHÂN CHÍNH, GÓP PHẦN XÂY DỰNG XÃ HỘI THEO TINH THẦN PHẬT GIÁO. Người trực tiếp thực hiện mục đích ấy là HUYNH TRƯỞNG. Sự tồn vong của Gia Đình Phật Tử là do ở Huynh Trưởng các cấp lãnh đạo. Ý thức được điều đó nên từ ngày khoác lên mình bộ đồng phục GĐPT, chúng con đã luôn luôn tâm niệm:1. Huynh Trưởng GĐPT phải TIN VÀO ĐẠO, TIN VÀO TỔ CHỨC GĐPT; Vì tin vào tính cách hằng hữu của Phật pháp nên chúng con tin tưởng GĐPT là một tổ chức trường cửu- Dù ở đâu và bất cứ lúc nào GĐPT cũng thuộc GHPGVNTN. Trong quá khứ, biết bao vị Thánh Tử vì Đạo, xả thân vì Đạo pháp, thì trong GĐPT Huynh Trưởng coi đời sống của tổ chức GĐPT là đời sống của chính mình. Quyết tâm thực hành lời phát nguyện khi thọ cấp.2. Đường lối của GĐPT không đi ngược với Đạo Pháp, với Dân Tộc . Con đường đi tới của GĐPT không phải là hoạt động cho cơ hội, cho hiện tại, mà phải nhằm mục đích ĐÀO TẠO CON NGƯỜI – Đào tạo một thế hệ Phật Giáo đồ mới, hội nhập với trào lưu văn minh tiến bộ theo tinh thần Phật Giáo của nhân loại.3. Hơn bao giờ hết, chúng con nhắc nhở nhau vận dụng châm ngôn BI, TRÍ, DŨNG và TINH TẤN trong việc “HỘ TĂNG BẢO TỒN PHẬT PHÁP” Cũng là lúc phải hết sức tỉnh táo để chiêm nghiệm, suy tư hầu phân biệt “PHẬT” với “ MA BA TUẦN” để khỏi phải khóc cho mình và cũng đừng để ai khóc vì mình không sáng suốt.4. Đối tượng giáo dục của Huynh Trưởng là lớp trẻ; có yêu trẻ mới dạy trẻ được; yêu trẻ tức là yêu dĩ vãng của chính mình; những HT như chúng con đang làm sống lại thời thơ ấu của mình bằng cách giúp cho tuổi trẻ vui sống trong GĐPT.5. Dù là Huynh Trưởng cao niên nhưng chúng con không ỷ vào tuổi thọ mà cho rằng “sống lâu lên lão làng” mà chẳng chịu tu học. Tu học cho bản thân, cho đàn em và chịu trách nhiệm giáo dục cả thế hệ trẻ mặc áo lam. Chúng con tự nhủ: Mình không có quyền làm dốt mình và không được làm khổ một ai vì sự dốt nát của mình.Kính Bạch Chư Tôn Đức.Nhờ những tâm niệm ấy mà giờ này chúng con còn đứng tại đây, còn khoác trên mình bộ đoàn phục đầy tình đạo của GĐPTVN. Dù chân đã yếu,cánh đã mỏi nhưng những “OANH VŨ” của hơn nửa hế kỷ trước, vẫn vững vàng từ bốn phương bay về đây, để bày tỏ nguyện vọng của mình nhân ngày lễ Ra Măt Gia Đình Phật Tử Điều Ngự tại Văn Phòng II Viện Hoá Đạo này. Đây là nơi “đất lành chim đậu”, Đây là nơi hội ngộ nhà lam. Hỡi những đoàn viên GĐPT, đã một thời mặc đoàn phục sinh hoạt trong nhà Lam! Hỡi những hiếu tử cùng tôn thờ một đấng Từ Phụ hãy VỀ ĐÂY ANH, VỀ ĐÂY CHỊ, VỀ ĐÂY CÁC EM! Đây là thời điểm để anh, chị, em mình ngồi lại với nhau, kiểm điểm hàng ngũ xem ai còn, ai mất- và đây cũng là lúc tìm về tổ âm của những con chim tạm thời lìa xa tổ bởi gặp phải chướng duyên nghịch cảnh.“Chúng ta là chim bốn phương bay về đây”. “Ta đoàn áo Lam tiến bước lên đường…” Những lời ca ,tiếng hát vang vang từ những khuông mặt tươi trẻ hồn nhiên trong GĐPT/Điều Ngự làm chúng con vô cùng sung sướng vì TRE CHƯA TÀN, MĂNG ĐÃ MỌC RỒI!Huynh Tưởng chúng con nguyện Đoàn Kết, Đoàn Kết và Đoàn kết, bởi mỗi Huynh Trưởng là một tế bào của “THÂN THỂ GĐPT” thì không gì có thể phân ly được.Kính Bạch Chư Tôn Đức.Với những tâm niệm của một Huynh Trưởng mà chúng con vừa bày tỏ- Giờ đây trong nghi lễ trang ngiêm, trước sự chứng minh của Chư Tôn Giáo Phẩm, chúng con kính cẩn phát nguyện:1. Đoàn Cựu Huynh Trưởng GĐPTVN Miền Vạn Hạnh mãi mãi Trung Kiên với GHPGVNTN dưới sự lãnh đạo của Đại Lão Hoà Thuọng Thích Quảng Độ Chủ Tịch Hội Đồng Lưỡng Viện, và trực thuộc Văn Phòng II Viện Hoá Đạo GHPGVNTN Hải Ngoại tại Hoa Kỳ do Đại Lão Hoà Thuợng Thích Hộ Giác lãnh đạo.2. Tất cả thành viên của Đoàn CHT/GĐPT/miền Vạn Hạnh nguyện đoàn kết chặt chẽ để cùng nhau sách tấn tu học trong tinh thần tương thân tương ái, cùng Ban Bảo Trợ sát cánh với GĐPT cùng hỗ trợ trong việc giáo dục và sinh hoạt cho đoàn sinh GĐPT.Nguyện Chư Phật mười phương. Nguyện Hồng Ân Tam Bảo gia hộ Chư Tôn Giáo Phẩm cùng liệt quý vị thân tâm an lạc.Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát.